Nợ Thơ

By Nguyễn Thế Dũng

              alt

                         Nợ Thơ

 

        Muốn làm thơ quá đi thôi

Loanh quanh luẩn quẩn đứng ngồi không yên

        Ăn làm vẫn nghĩ liên miên

Xóa đi viết lại liên thiên dông dài

        Đời người còn lắm chông gai

Biết đâu phải trái để ai thỏa lòng

        Tứ thơ lủng củng lòng vòng

Ai mà biết được tận cùng đúng sai

        Vần thơ trúc trắc ngang tai

Thôi đành gác bút thở dài chịu thua.

        Nợ đời còn đấy ai mua

Nép mình thanh thản đu đưa với đời.

 

                               Nguyễn Thế Dũng

                             (Bụi Phấn vương 5)

             

More...

Đại tướng Thái úy Phạm Tu _ Lý Phục Man vị anh hùng kiệt xuất Triều Tiền Lý Nam đế

By Nguyễn Thế Dũng

 

Nói đến các làng Giá và cả mấy làng Sấu gần đó ai cũng biết cả vùng Sấu Giá này là một rừng dừa. Cũng không ai biết đích xác dừa ở đây được trồng từ bao giờ nhưng ở miền Bắc Việt Nam không có nơi nào có được cả một rừng dừa như vậy. Theo truyền thuyết sau khi dẹp tan quân Lâm ấp (Chiêm Thành) Tướng công Phạm Tu đã mang giống dừa từ trong đó về trồng tại quê hương như ghi lại một chiến tích huy hoàng.

Trên đây là những truyền thuyết sống động những ghi chép xa xưa về thân thế sự nghiệp của Tướng quân Phạm Tu - Lý Phục Man được lưu giữ trong nhân dân vùng Sấu Giá. Những tài sản tinh thần vô giá đó được lưu giữ sâu rộng trong nhân dân truyền qua hết thế hệ này đến thế hệ khác đã trở thành chuyện kể hết sức sinh động hấp dẫn và rất thiêng liêng tôn quí. Già trẻ gái trai ở đây như đã thuộc nằm lòng.

Tuy nhiên để tiếp tục làm sáng tỏ thêm về Tướng công Phạm Tu - Lý Phục Man cần đi sâu xem xét về khu di tích đình miếu tại Yên Sở. Như truyền thuyết còn lưu lại ngay sau khi Tướng công về cõi vĩnh hằng nhân dân làng Giá đã lập miếu thờ. Năm 1016 nhân chuyến tuần du trên sông Đáy tại bến Mã Tân Lý Thái Tổ đã hiển mộng gặp Tướng Công rồi ra lệnh cho tu tạo lại miếu thờ và dựng tượng Tướng công như người trong mộng tại ngôi đền Thượng. Pho tượng "nhất như mộng trung sở kiến" uy nghi thạc mỹ. Thời kháng chiến chống Pháp cả khu đền bị cháy lạ thay pho tượng Tướng công vẫn như nguyên vẹn khối gỗ "cốt" bên trong không hề bén lửa mặc dầu đâu đó có vài chỗ bong tróc lớp hỗn hợp đắp ngoài lộ đôi phần cốt gỗ mít.

Tiếp theo sau vua Trần Thái Tôn tức vị nhân tuần du bằng thuyền trên sông Hát đêm đến dừng thuyền bến Ngọc nhà vua thấy một trường thuyền đi tới vua cho hỏi thuyền của ai vậy? Đáp "Thần bản xã nhân tính Lý danh Phục Man đã phò tá vua Lý Nam đế nên Thượng đế cho giữ vùng này trừ tai hãn hoạn cho dân" Vua Trần Thái Tôn cho tiếp tục mở rộng và tu bổ thêm cho Đền khang trang đầy đủ cả 3 ngôi: Thượng Trung Hạ. Đền Trung nối với đền Thượng tạo thành chữ Công. Năm Mậu thân 1688 Cảnh Trị 6 đời vua Lê Huyền Tôn làm tiếp hai dãy hành lang tạo thành khối kiến trúc "nội công ngoại quốc". Trước đó năm Nhâm tý (1672) niên hiệu Dương Đức nguyên niên đời Lê Gia Tông xây tam quan và tường hai bên tả hữu. Năm Nhâm Tuất (1682) niên hiệu Chính Hòa thứ 3 đời Lê Hy Tông xây cột trụ và tường biên. Công cuộc xây dựng tu tạo Đền Giá kéo dài từ năm Bính Thìn đời Lý Thái Tổ (1016) đến năm 1688 đời Lê Cảnh Trị mới cơ bản hoàn thành. Năm Quí Hợi 1804 đời Nguyễn Thái Tổ Gia Long năm thứ 2 đúc thêm máng đồng.

Đền Giá thờ Tướng công Phạm Tu - Lý Phục Man là một ngôi đền nguy nga bề thế tọa lạc trên một khuôn viên rộng lớn tựa lưng vào khu rừng Cấm phía trước là dãy núi Phượng Lĩnh - Sài sơn. Thật hiếm có ngôi đền nào to rộng tráng lệ như Đền Giá. Từ trên đê tả Đáy rẽ xuống qua đường chân ngựa là đến ngay khu Đền chính. Qua một sân cỏ rộng là gặp bức tường cổ giữa có đôi cột trụ cao to với đôi câu đối được viết bằng hai hàng đại tự khảm sứ "Đại danh thùy vũ trụ - chính khí tác sơn hà" (Tên người che chùm thiên hạ khí thiêng nâng nhấc núi sông) và bên trong cột cũng đôi câu đối lớn như thế: "Nhất thiên tang tử ấm - Vạn đại kiếm cung hùng" (Một vùng trời quê hương được nhờ ơn muôn đời sau đất này vẫn hùng mạnh). Lại qua một sân cỏ thứ hai nữa là đến Tam quan 3 gian cao rộng kề bên nối với hai bức tường có hai cửa nhỏ gọi là cửa Sước rồi kéo dài 2 bức tường tả hữu ra 2 bên. Đặc biệt là trên hai bức tường này người xưa gắn mỗi bên 26 và 23 viên gạch nung làm thành 2 bức phù điêu trên đắp hình gia súc chim muông ngư tiều nho sĩ... Hai bức tường và những viên gạch trang trí này được xây dựng từ đời vua Lê Gia Tông (1672) cho đến nay chưa ai giãi mã được mục đích nội dung của những bức tranh gốm nung ngày.

Qua cửa Tam quan đến sân cỏ thứ 3 rồi qua bậc đá tam cấp (những bậc đá ở Đền đều được làm từ năm Chính Hòa 2 đời Lê Hy Tôn (1680)) là đến một sân gạch nền cao khá rộng tiếp theo là đền Hạ (còn gọi là Tiền đường) đền Trung và trong cùng là đền Thượng. Các cụ già trong làng cho biết từ bệ gạch nơi có tượng Tướng công ra đến sân cỏ ngoài cùng là chín bậc thăm thẳm "cửu trùng". Kề hai sân trong thu vào một chút ở hai đầu hồi Đền trung phía đông là nhà ngựa phía tây là nhà bia.

Ngay cửa nhà ngựa có đôi câu đối rất hay: "Tinh trừ Thái Ất thiên kim giá - Lực đại phong truy vạn lý trình" đại ý là Ngựa được tinh luyện cất giữ tính ra đáng giá ngàn vàng. Sức mạnh của ngựa như gió đuổi trên đường vạn dặm. Trong nhà bia có một ngựa chiến thần Bạch mã được đúc bằng đồng sơn ta màu trắng từ năm 1707 đời Lê Dụ Tôn thứ 3. Chiến mã là một kiệt tác cả về mặt chất liệu kỹ thuật mỹ thuật không thấy có ở các đình miếu trên đất nước ta. Cũng không biết bao nhiêu truyền thuyết về thần mã. Ngựa đứng trên một giá gỗ lim chắc chắn có 4 bánh xe gỗ. Truyền rằng mỗi khi mở hội rước Thần Mã ra Tam quan chỉ có một ông già đánh trống hiệu còn lại là trẻ em kéo người lớn kéo ngựa không đi. Thế nên cho đến nay dân làng vẫn giữ tục này. Nghe đâu khi còn chiến tranh chống Pháp chống Mỹ có vài lần Bạch Mã được Thần lấy đi đánh giặc biến mất mươi lăm ngày mới về. Ở một chân ngựa có một vết nứt truyền rằng trong chiến trận Bạch Mã bị thương nên người ta không thể sơn lấp được vết chém đó. Trước mặt ngựa lập một ban thờ ngày thường cũng như lễ hội luôn luôn có hương nhang người dân vẫn qua đây khấn vái.

Đối xứng với nhà ngựa ở phía tây bên trái có một nhà bia. Kích thước cũng tương tự như nhà ngựa bên ngoài có đôi câu đối "Bi truyền vạn cổ lưu phương tích - Thạch ký thiên thu tổng mỹ đàm" nghĩa là những tấm bia còn truyền lại từ ngàn năm xưa vẫn lưu tiếng thơm của di tích - Mặt đá còn ghi lại sự tích của Thần đến muôn đời sau vẫn còn bàn luận ngợi khen. Trong nhà bia có 5 tấm bia đá: Bia cổ nhất là bia "Cổ tích từ bi" dựng ngày lành tháng 4 năm Canh thân niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 2 đời Lê Thần Tôn năm 1620 (Bản lưu tại Viễn Đông Bác cổ số 25). Tấm bia thứ 2 có tên là "Cổ tích từ bi ký" đây là tấm bia lớn nhất trong 5 bia. Bia dựng ngày lành tiết tiểu thử năm Canh Tuất niên hiệu Cảnh trị 8 đời vua Lê Huyền Tôn năm 1670 (Bản dập lưu VĐ BC số 1274). Tấm bia số 3 có tên "Thuật thần từ cựu bi" chép lại một hay vài tấm bia cổ đã mòn hỏng. Bia lập ngày lành tháng 7 năm Mậu thân niên hiệu Bảo thái tứ 9 đời vua Lê Dụ Tôn năm 1728 (Bản dập lưu tại VĐBC số 1275 - 1280). Bia số 4 với tên gọi "Đồng mang bi ký" lập ngày lành tháng 10 năm Quý Hợi niên hiệu Gia Long đời Nguyễn Thái Tổ năm thứ 2 nói về đúc máng đồng hứng nước ở hai mái ngói đền Trung và Tiền đường (Bản dập in lưu VĐBC số 1276). Mặt dưới máng có 3 bài thơ ngũ ngôn tuyệt hay. Bia số 5 với tên gọi "Miếu đình phụng sự giao từ". Bia lập thượng tuần tháng tư năm Ất mão niên hiệu Tự Đức 8 đời vua Nguyễn Dực Tôn năm 1855 (Bản đập in lưu VĐBC số 1281) nói về giao ước giữa 2 làng Yên sở và Đắc sở trong việc thờ cúng nhất là việc rước hội.

Nội dung cả 5 tấm bia này đều được ghi lại đầy đủ trong cuốn "Văn bia Quán Giá" do Nguyễn Bá Hân biên dịch Nhà xuất bản Thế giới ấn hành năm 1995. Trong lời giới thiệu cuốn sách giáo sư sử học Phan Huy Lê viết: "Đó là những tư liệu vô cùng qúi giá ghi lại sự tích Lý Phục Man..."

Thật vậy trong 5 tấm bia trên đáng chú ý có tới ba tấm nói về thân thế sự nghiệp Tướng công Phạm Tu - Lý Phục Man. Đặc biệt là bia Bảo Thái 1728 "Thuật thần từ cựu bi"- ghi lại nội dung của một hay nhiều tấm bia trước đó mòn hỏng. Nói về thân thế sự nghiệp của Tướng công Bia Bảo Thái ghi rõ :"Đại vương bản hương nhân dã" - Đại vương là người làng này. Thủa thiếu thời Người "anh tư cái thế tài nghệ tuyệt nhân" có tài cưỡi ngựa bắn cung và thuần phục voi dữ. Lý Nam Đế thấy Đại vương là người "hiên ngang khí vũ chân đại trượng phu" có thể lập nhiều kỳ công nên trao phong "Đại tướng quân giao trấn giữ Đỗ Động Đường Lâm" hậu bái Đại tướng quân sử trấn Đỗ Động Đường Lâm. Khi Lâm ấp (Chiêm Thành) nhập khấu Cửu đức tin cáo cấp về triều các quan đồng thanh tâu vua: "Phi Đỗ Động tướng quân bất liễu thử tặc". Vua cử Tướng công "Tổng soái chư tướng chinh phạt Lâm ấp tại Cửu đức. Tin thắng trận về triều vua hết lời ngợi ca "Gặp thớ gỗ cứng mới biết được dao sắc". Nay Đỗ Động tướng quân mới bắn mấy mũi tên đã đại phá kình địch. Thật là một vị anh hùng hào kiệt đất Sơn tây. Các vị danh tướng thủa xưa cũng không hơn được không thể nào lại không khen thưởng.

Vì tướng công "đa phục man di chi công" nên ban cho tước hiệu Phục Man cho đổi sang họ Lý gả công chúa Lý Nương cho Tướng công và siêu thăng Thiếu úy tham nghị mạc phủ nghi thị bách liêu..." đứng đầu trăm quan võ. Sau đó bia ghi lại câu chuyện Lý Thái Tổ tuần du trên sông Hát thấy nơi sơn xuyên tú khí nên tâm cảm thần động đã rót chén rượu xuống sông mà khấn rằng: "Trẫm qua nơi đây thấy nơi này sơn kỳ thủy tú hẳn là địa linh ắt sinh nhân kiệt hãy cùng trẫm hưởng chén rượu này". Tối đó nhà vua nằm mộng thấy một người to lớn cao đẹp hiện lên tâu: "Thần là người làng này họ Lý tên Phục Man. Thời vua Lý Nam Đế Thần là người trung dũng ai cũng biết tiếng nên được giao trấn giữ Đỗ Động Đường Lâm. Thần đã vâng mệnh vua giữ yên không cho bọn giặc man rợ xâm phạm. Sau khi thần mất thượng đế giao cho Thần chức cũ điều âm binh giúp nước diệt giặc". Sau đó đại vương ung dung đọc 4 câu thơ:

Thiên hạ tao mông muội

Trung thần nặc tính danh

Trung thiên minh nhật nguyệt

Tư khả hiện chân hình.

Nhà thơ Trần Lê Văn dịch là:

Trời đất còn mờ mịt

Trung thần dấu họ tên

Nay sáng vầng nhật nguyệt

Hình bóng rõ như in.

Nhà vua kinh ngạc về giấc mộng kể lại cho quan Ngự sử đại phu là Lương Nhâm Văn nghe. Quan Ngự sử tâu: vị thần đã hiện hình tâu bày và tỏ ý muốn được "lập từ thiết tượng" - lập đền dựng tượng thờ. Vua sai xây Đền thờ to rộng hơn dựng tượng như người trong mộng và phong là Phúc thần.  Tiếp theo là nói về sự linh thiêng của thần: Vào đời Trần Thái Tôn niên hiệu Nguyên phong giặc Thát Đát vào xâm lược. Tới địa phận làng Cổ sở ngựa giặc đều cúi gầm đầu không chịu đi mọi người trong làng kéo ra chống giặc. Giặc sợ hãi hoảng loạn tháo chạy. Lại đến đời Trần Nhân Tông niên hiệu Trùng Hưng giặc Nguyên lại vào xâm lược nước ta. Khi giặc đến vùng này tưởng như cả một vòng vây lửa rực cháy bao vây lũ giặc. Giặc kinh hồn hò nhau tháo chạy. Vua Trần Nhân Tông phong cho làng Cổ sở là "Chứng an hộ xá" và ban tặng Thần là Chứng an Vương...Phần cuối bia ghi lại những sắc phong lệnh chỉ của các vương triều ban tặng cho Tướng công.

          Còn hai tấm bia "Cổ tích từ bi" năm 1620 và "Cổ tích từ bi ký" năm 1670. Phần nói về sự tích Tướng công có phần sơ lược hơn. Tuy nhiên bia Vĩnh Tộ 1620 và bia Cảnh Trị 1670  chỉ nói về giấc mộng của vua Trần Thái Tôn (1225 - 1258) tuần du sông Hát và cũng gặp Thần như câu chuyện về vua Lý Thái Tổ ghi trong bia chép lại Bảo thái 1728. Phần sau hai bia này cũng chủ yếu ghi lại những sắc phong lệnh chỉ ban tặng cho Tướng công và những ân sủng của các vương triều Lê Trịnh ban tặng cho Đền Giá. Đặc biệt đáng chú ý nhất là ở bia lập sau năm 1728 ghi lại nội dung các bia mờ hỏng thì chức vụ của Tướng công là Thiếu úy. Còn 2 bia kia dựng trước đó hàng trăm năm là bia Vĩnh Tộ 1620 và bia Cảnh Trị (1670) lại ghi là Thái úy. Tuy nhiên theo sách "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú bộ bách khoa toàn thư đồ sộ của nước ta thì trong mục "quan chế" có giải thích là xưa kia các triều đại cũ không phân biệt Thái úy và Thiếu úy là hai chức quan hai quan tước cao thấp khác nhau. Thiếu úy tức là Thái úy sau này. Chép lại bia cũ dân làng tôn trọng văn bản gốc nên vẫn ghi Thiếu úy chứ trong nhận thức thực tế người viết đã biết xưa Thiếu úy và Thái úy là một. Còn việc Tướng công đứng đầu ban võ thì đã rõ qua những chi tiết đã được phân tích trên đây. "Tham nghị mạc phủ nghi thị bách liêu..."

Một điều băn khoăn của một số nhà nghiên cứu cho rằng ở Yên Sở không có họ Phạm nên Phạm Tu không phải người Yên Sở. Điều đó là sai lầm bởi cho đến sau này bia Cảnh Trị 1670 tức là sau khi Tướng công hóa Thánh hơn một nghìn một trăm năm mặt sau tấm bia này vẫn ghi danh sách 3 người họ Phạm: Phạm Tiến Tài (giáp Đông Vĩnh) Phạm Văn Trị (giáp Cầu Đông) và Phạm Lâm (giáp Quả Tây). Từ sau đấy do hoàn cảnh biến động của lịch sử họ Phạm ở Yên Sở hiện nay không còn ai. Sự thực là cho đến bây giờ nhân dân vẫn ghi nhớ việc giáp Quả tây trước đây được giao trông nom phần mộ của song thân Tướng công. Bây giờ các cụ ở lứa tuổi bảy tám mươi trở lên ở giáp này vẫn phải trông nom. Cũng giáp ấy xưa vào Hội Giá được dựng cột và kéo 5 lá cờ vía - cờ ngũ hành - tại sân Đền 13 giáp còn lại chỉ dựng các cờ to khác. Đặc biệt đáng chú ý là tất cả các bia tại Đền Giá không bia nào ghi chép về sự hy sinh oanh liệt của Tướng công. Tất cả chỉ ở trong truyền thuyết lưu lại và cũng có một vài cuốn sự tích Tướng công nói về việc này như đã trình bày trên. Điều này cũng dễ hiểu. Quan niệm xưa thường tế nhị không muốn nói đến sự hi sinh mất mát cho dù sự hy sinh đó rất cao cả vì sự nghiệp của quốc gia dân tộc đặc biệt sự hi sinh ấy là do kẻ thù giết hại. Có chăng chỉ thoảng qua đôi ý trong các câu đối thờ ở đây: "Tá lý sinh tiền tâm vị mãn" - Lúc sinh thời phù nhà Lý một dạ thờ vua lòng còn chưa thỏa hoặc "Trung liệt từ ức tải trường huy" tức là Đền thờ vị thần trung liệt còn sáng mãi đến muôn đời. Trong lịch sử dân tộc cũng có những trường hợp tương tự. Đó là sự hi sinh oanh liệt của Hai Bà Trưng. Có chỗ sử chép không nói rõ sự hi sinh oanh liệt của Hai Bà như Đại Việt Sử Ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên chỉ nói "Vua - Hai Bà sợ không chống nổi giặc lui về giữ Cẩm Khê. Quân chúng thấy vua là đàn bà sợ không đánh nổi địch bèn tan chạy. Quốc thống lại mất" chỉ ngụ ý nói đến Hai Bà không còn quốc thống lại mất về giặc Hán. Sách Việt sử Tiêu án của Ngô Thì Sĩ chỉ nói là "Hai Bà Trưng thua chạy đến núi Huy sơn rồi không biết đi đâu". Trong "Lịch triều hiến chương loại chí" lại ghi là "lui về Cẩm Khê. Quân đều tan vỡ thế cùng phải chết". Cho đến quyển Đại Nam Quốc Sử diễn ca đời Nguyễn Tự Đức có vẻ cụ thể hơn:

          "Cẩm Khê đến lúc hiểm nghèo

          Chị em thất thế cùng liều với sông"

Và sau đó đến tận năm 1942 Nguyễn Tường Phượng nói rõ hơn "Chị em Trưng Vương thất thế phải gieo mình xuống sông Hát giang (sông Đáy) mà tự vẫn". Còn sách "Hậu Hán Thư" chép các sự kiện lịch sử của Trung Quốc nói rõ Mã Viện đã chém chết Hai Bà. Thế là đã rõ không muốn nói rõ cụ thể sự hi sinh vì đất nước của người xưa do bị quân thù giết hại đến như các nhà sử học danh tiếng cũng thoáng ý "Quốc thống lại mất" hoặc "Không biết đi đâu...". Trường hợp của Tướng công Phạm Tu - Lý Phục Man cũng vậy. Sự thật là Người bị quân Lương và bọn Di Lạo phản bội vây đánh bất ngờ Tướng công bị thương nặng rồi mất.

Còn một điều cần làm sáng tỏ thêm là tên thật của Tướng Công. Ai cũng biết do có nhiều công lao đánh bọn xâm lấn Lâm ấp (Chiêm Thành) và một số tộc người thiểu số ở Đường Lâm - Đỗ động nên Tướng công đã được đổi họ là Lý và tước hiệu là Phục Man - hàng phục được bọn man di. Có lẽ vua Lý cũng dựa theo sử Trung quốc sau khi đánh dẹp yên nước Ba (Tế Xuyên) vua Hán Quang Võ phong cho Mã Viện là Phục Ba Tướng quân. Vậy danh xưng Lý Phục Man không phải là tên gốc. Học giả Nguyễn Văn Huyên đã viết "Lý Phục Man chỉ là cái tên vua ban. Cả tên lẫn họ đều không phải tên họ của Tướng công lúc ra đời. Được gia ân mang tên họ mới và sau đấy người ta chỉ còn gọi biệt danh đến nỗi tên gốc hoàn toàn biến mất". Và dân làng Giá chỉ còn kiêng tên Man mà không kiêng tên Tu nữa. Sự thực là tên gốc của Tướng công không hoàn toàn mất. Một số cuốn sách bằng chữ Hán ghi lại sự tích của Tướng công vẫn còn đó những lời truyền miệng trong dân gian do những nhà nho xưa kể lại vẫn còn đó: Phạm Tu và Lý Phục Man là danh xưng của một người một nhân vật lịch sử quê gốc ở làng Giá xã Yên Sở huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội. Nói cách khác Phạm Tu chính là Lý Phục Man hay ngược lại Lý Phục Man chính là Phạm Tu.

Vị anh hùng dân tộc khai quốc công thân nhà Tiền Lý vị Tướng quân hy sinh oanh liệt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đã được nhân dân và các vương triều xưa hết lòng tôn kính biết ơn. Người đã được ban tặng hàng trăm sắc phong với hơn 400 mỹ tự (chữ đẹp) từ đời vua Lê Đại Hành đến Nguyễn Bảo Đại. Hai lần Tướng công được phong Thánh: Thiên Nam Thánh - Vị Thánh của trời Nam đời Lý Thần Tôn (1131) và Nhân Thánh - vị Thánh nhân từ đời Lê Thần Tôn (1624). Cũng hai lần Tướng công được phong Vương: Gia Thông đại vương đời Lý Thái Tổ (1016) và Chứng An đại vương đời Trần Nhân Tôn (1285). Nhiều lần được phong Thượng đẳng phúc thần (Bia Vĩnh tộ 1620 bia Cảnh trị 1670 đời Minh Mệnh...).

Miếu thờ Tướng công Phạm Tu - Lý Phục Man thường gọi là Đền Giá Miếu Giá. Vẫn được liệt vào hạng "Tự điển" (Đền Miếu thờ phụng tế lễ mẫu mực) quanh năm suốt tháng nhân sự phụng thờ kính cẩn. Có rất nhiều sắc phong nhất là từ thời Lê Trịnh về sau hầu như không đời vua chúa nào không có sắc phong có lần trong một tháng hoặc một năm 2 lần phong tặng: Lê Kính Tôn năm 1614 tháng 9 ngày 20 và sau đó ngày 22 tháng 9 một đạo sắc khác. Vua Lê Thần Tôn (1660) tháng 11 ngày 27 một đạo và 2 ngày sau ngày 29 một đạo sắc khác. Có đời vua Lê trị vì nhiều lần sắc phong cho Tướng công như vua Lê Kính Tôn Lê Thần Tôn Lê Cảnh Hưng... Các chúa Trịnh như Thượng phụ Bình An Vương (Trịnh Tùng 1570 - 1623) Thanh đô Vương (Trịnh Tráng 1623 - 1657) Thượng sư Tây vương Trịnh Tạc (1657 - 1682)... đều có lệnh chỉ giao cho xã lập đội chuyên trách trông coi giữ gìn khu Đền ai xáo trộn sẽ bị nghiêm trị. Các đời vua Lê Chân Tôn (1645) Lê Huyền Tôn (1663) Lê Dụ Tôn (1714) Lê Hy Tôn (1683) Lê Hiển Tôn (1757 1767 1784...) đều có sắc lệnh cho xã được tổ chức những người chuyên trông nom bảo vệ Đền miễn thuế cho ruộng đất dùng để tế Thần miễn trừ phu phen tạp dịch làm đường đắp đê cho những người này. Thậm chí có sắc phong miễn tạp dịch miễn thuế ruộng đất cho cả làng có năm còn cấp thêm tiền gạo vào việc tế lễ Tướng công. Như năm Lê Hiển Tông 18 (1757) cấp thêm cho xã bốn mươi bảy quan hai buộc tiền và một ngàn tám trăm hai mươi bốn bát gạo để cho việc phụng thờ ở trong đền. Từ xa xưa đến nay việc lễ bái tế tự ở Đền Giá được tiến hành nghiêm cẩn qui định các tiết lệ đầy đủ suốt cả một năm từ đón tết Nguyên đán đến giao thừa "Tống cựu nghinh tân". Các phe giáp dòng nóc phân định rõ ràng theo đúng tinh thần sắc lệnh của vua chúa. Những ngày lễ trọng như Xuân Thu tế và suốt thời gian lễ hội việc tế Thần theo nghi thức Nhà nước (quốc tế). Riêng lễ hội thì cả 3 làng Giá phối hợp tế Thần trên một không gian sâu rộng từ tam quan đến cửa Đền Thượng mỗi buổi tế gần 3 giờ đồng hồ mới xong. (Trình tự buổi tế dẫn này đã được cố giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên ghi lại đầy đủ trong tác phẩm đã dẫn). Các bài văn tế khấn Thần được biên soạn rất công phu. Ngoài phần ngày tháng nhân danh những người cúng tế lễ vật dâng cúng lý do buổi tế phần ca ngợi công đức của Thần được soạn mỗi buổi tế mỗi khác. Đó là những bài văn chữ Hán viết theo thể phú biền ngẫu súc tích mẫu mực vần điệu bằng trắc chau chuốt công phu gieo vần theo từng ngày tế. Trong tài liệu đã dẫn cố giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên cũng ghi lại một số bài văn tế trong lễ hội. Gần đây soạn giả Nguyễn Bá Hân đã giới thiệu 33 bài văn tế Tướng công in trong quyển Văn thơ Quán Giá nhà xuất bản Thế giới ấn hành năm 2006. Thực tế số bài văn tế văn khấn ở đây có tới 58 bài gồm cả những bài văn khấn cho các sĩ tử đi thi thi đỗ trai tráng tòng quân tằm tang cày cấy... hầu như những bài văn tế này đều nhắc đến công lao vĩ đại của Thần và làm rõ quê hương công trạng chức vụ thời gian chiến đấu dưới ngọn cờ nhà Lý: Uy dung nghiễm nhã khí vũ hiên ngang Đường lâm Đỗ động trường thành...

•-         Nam thiên danh tướng Tiền Lý trượng phu

•-         Nam quốc danh thần Lý triều cự phách

•-         Xuất nhập Tướng quân Thái úy huân danh vĩnh ký...

•-         Thánh trí uyên thâm thông minh thiên tích thất tải (7 năm) Lý triều Đại tướng.

•-         Doãn vũ doãn văn. Nãi Thần nãi thánh. Xuất tướng quân nhập Thái úy công danh vạn cổ chiêu chương.

•-         Thân kiêm ngoại quận nội triều

•-         Cửu Đức Đường Lâm trọng trấn...

Ngoài văn tế thật hiếm thấy ở Đình Đền nào nhiều câu đối thờ Thần như ở Đền Giá. Soạn giả "Thơ văn Quán Giá" đã tuyển soạn dịch nghĩa dịch thơ 74 câu đối. Tuy nhiên số câu đối ở đây có tới hơn 90 câu được khắc thờ ở Quán và ghi lại trong các quyển Sự tích của Tướng công. Ví dụ một số vế đối đoạn đối:

•-         Sùng t điển ư thuận thiên chi nhật trung liệt từ ức tải trường huy.

•-         Trượng việt bỉnh mao thất tải (7  năm) Lý triều hùng tướng

•-         Bình nhung thảo tặc túc trứ phong công lãng Cửu đức chi hùng uy Yên sở nhất phương mông chí trạch.

•-         Đắc Nam thiên chính khí ngang ngang Tiền Lý trượng phu ngoại nhi quận nội nhi triều nhất thân hệ quốc gia khinh trọng

•-         Thất tải trung thiên vạn lý cần vương

•-         Cửu đức quân doanh...Đường Lâm thú lũy...

•-         Chiêm Thành vạn lý việt mao... Đỗ động Đường lâm dương Thánh vũ

•-         Tinh thải diệu Đường lâm...nguyệt huyền loan Cửu đức

(Xin phép được trích một số câu hoặc vế đối có nhắc đến Đường lâm Đỗ động Cửu đức Chiêm Thành Yên sở Đoài phương Tây thổ ...để tham khảo rõ hơn về Phạm Tu-Lý Phục Man).

          Nói đến nơi thờ Tướng công Phạm Tu ở Yên sở bấy lâu nay vẫn có sự nhầm lẫn giữa Đình Giá và Quán Giá. Quán Giá xưa thường gọi là Đền là Miếu là nơi thờ chính Tướng công là quê hương và cũng là nơi Tướng công hóa Thánh. Những khái niệm: "Canh đền" "Tuần miếu" xưa vẫn hay dùng. Bia Tự Đức ghi rõ là "Miếu đình phụng sự giao từ" nghĩa là những giao ước riêng rẽ hai nơi Đình và Miếu trong việc phụng thờ Tướng công. Càng ngày nhân dân trong vùng càng thấy công ơn to lớn của Tướng công cùng với việc linh ứng kỳ lạ "Đền kẻ Giá cái lá cũng thiêng" của Đức Thánh Giá nên đã coi Đền thờ của Thiên Nam Thánh như nơi thờ một vị Tổ sư của một đạo giáo nào đó. Do vậy từ "Miếu Đền" nhân dân chuyển sang gọi là Quán Quán Giá. Còn đình Giá xưa kia nằm ở cạnh đê tả Đáy giữa hai làng Yên sở và Đắc sở là ngôi đình chung của các làng Giá chứ không phải là Đình Giá là của riêng làng Đắc sở (cố giáo sư tiến sĩ Nguyên Văn Huyên tưởng là Miếu của Yên sở đình của Đắc sở). Đình là nơi thờ vọng Lý Tướng công Phạm Tu là hành cung vua chúa tuần du nghỉ lại là nơi hội họp chung của các làng Giá đặc biệt xưa kia nếu năm nào mở hội cả tháng thì hai làng cùng rước bài vị về Đình mở hội cúng tế ở đấy. Đình Giá đã bị Pháp đốt cháy từ năm 1947 nay chỉ còn lại một số ảnh do cố giáo sư Nguyễn Văn Huyên chụp in vào sách. Đó là một ngôi đình cổ to rộng kiến trúc đẹp và đặc biệt không hề có xà kết cấu mái là do các vỉ  gỗ tạo thành. Nghe nói ngôi đình này được xây dựng từ đời nhà Trần.

          Hàng năm nhân dân các làng Giá mở hội vào ngày 10-3 âm lịch ngày sinh của Đức Thánh Giá. Xưa kia thường vào hội nửa tháng năm nào phong đăng   hòa cốc vào hội cả tháng từ 10-3 đến 10-4 âm lịch. Cá biệt có những năm do mất mùa đói kém bệnh tật chỉ mở hội lệ 3 ngày. Cả vùng này có câu ca "Bơi Đăm Rước Giá Hội Thày...". Đặc sắc nhất của hội làng là Rước Giá. Nếu không mở hội tại Đình thì rước Giá  là rước văn vì Thánh ở tại cung tại miếu. Đến ngày lễ hội một cụ thông thạo Hán học   phẩm chất đạo đức tốt gia đình đề huề êm ấm chay tịnh lên Văn chỉ của làng nơi thờ Đức Thánh Khổng tử và các vị Tiên hiền làm lễ rồi tả văn tại đấy. Sau đó đoàn rước Giá lên Văn chỉ làm lễ nhận Văn tế dâng lên kiệu rước về Đền tế Thánh. Vì vậy rước Giá chủ yếu là rước văn rước chữ của thánh hiền để đọc khấn Lý tướng công Gia thông đại vương Thiên nam Thánh. Rước giá được huy động đông người tàn tán cờ quạt rất nhiều thành một đoàn rất dài trống chiêng vang dậy nên trông cực kỳ hoành tráng lộng lẫy nghiêm túc (Giáo sư Nguyễn Văn Huyên còn ghi lại chi tiết thứ tự đám rước này trong sách đã dẫn). Trước khi đi rước bao giờ cũng tổ chức nghiềm quân một hoạt động đặc sắc của lễ hội làng Giá. Tùy theo hoàn cảnh từng văn đoàn quân "nghiềm" có tới ba bốn trăm người trong đó 2/3 là những thanh niên trai tráng khỏe mạnh số còn lại là các cháu ở độ tuổi thiếu niên. Đó là những thanh thiếu niên đạo đức tốt khỏe mạnh nhanh nhẹn sáng sủa không vướng bụi (có tang) được chọn lựa ở các làng Giáp (nay là các thôn). Trai tráng mặc quần trắng giầy bata trắng áo dài đỏ có thắt lưng mầu đầu đội khăn đen các cháu nhỏ cũng giầy trắng quần trắng áo xanh nước biển có dây đai lưng chít khăn đầu rìu. Trai tráng thì cầm cờ thần hoặc trượng gỗ các trẻ nhỏ cầm cờ chuối màu xanh lam các cháu này gọi là tổng cờ trong khi xếp hàng hoặc đi rước theo lệnh chiêng của cụ chấp hiệu các cháu lại hô "A lá ré ré ré" (có lẽ đó là một câu hèm ?). Cả đoàn quân có một vị "tướng" cầm đầu. Đó là một trung niên cao to khỏe mạnh đẹp trai (bây giờ thường là sĩ quan quân đội nghỉ chế độ do Hội CCB đề cử). Vị "Tướng" cũng đi giầy vải quần trắng áo dài may rộng thắt lưng màu và khăn đầu rìu nâu hoặc màu xẫm.

          Theo hiệu lệnh trống- lễ hội nói chung điều khiển đoàn quân "nghiềm" nói riêng đều dùng trống không dùng mệnh lệnh hô bằng lời. Trống nổi hồi đoàn quân nhanh nhẹn tập hợp tại sân cỏ ngay phía trong tam quan kề với sân rồng: Tướng đứng đầu hàng thứ nhất bên góc phải phía trên cứ hai hàng trai tráng một hàng trẻ em. Theo lệnh trống nhận cờ nhận hồng trượng thứ tự các hàng lên sân rồng nhận rồi quay về chỗ cũ ngăn nắp nhịp nhàng. Trống lệnh chỉnh trang hàng lối rồi bắt đầu lễ Thánh. Hàng trăm người nhưng đứng lên cúi lạy rất đều. Sau đó theo lệnh trống quay trái phải theo hàng ngang hàng đầu ngoảnh quay đông hàng thứ 2 ngoảnh quay tây cứ vậy đến hết hàng ngang cuối cùng rồi bắt đầu đan hàng qua các cờ thần làm chuẩn dựng ven hai bên sân cỏ. Dân ở đây gọi là đi "đẽo cày" (?) Đan hàng xong cả đoàn theo hàng một đi đầu là "Tướng" sau đó cứ 2 trai tráng 1 thiếu niên (hai đỏ một xanh) đi ra phía cửa Sước qua sân cỏ giữa rồi ra sân cỏ ngoài cùng. Giương cao cờ thần hồng trượng đội quân nghiềm theo chủ tướng đi thành một vòng tròn lớn rồi dần dần thu nhỏ các vòng tròn người mỗi lúc một nhỏ hơn. Số người đi bên trong sau chủ tướng vẫn đi bình thường thì bộ phận đi sau phải vừa đi vừa chạy mỗi lúc phải chạy nhanh hơn. Cả đoàn nghiềm đang xoáy trôn ốc khi vị chủ tướng vào tâm điểm của vòng tròn và vòng chạy ngoài cùng đã khép kín thì một tiếng hô vang của chủ tướng ô ô ô rồi lập tức chủ tướng quay lại lộn trở ra. Tất cả đoàn quân giơ cao cờ trượng hô theo chủ tướng ô ô ô rầm trời cùng với tiếng trống trận dồn dập. Lạ kỳ thay đoàn quân theo chủ tướng vòng ra vẫn trật tự giữ đúng cự ly chạy theo đường của mình không nhầm lẫn lộn xộn. Chủ tướng dẫn quân lên đường lớn vòng ra cánh bãi rồi lại về sân Đền chuẩn bị sắp xếp hàng ngũ đi rước. Lễ nghiềm quân đã hoàn tất. Có khá nhiều giải thích về từ "nghiềm" một từ Việt được sử dụng trong màn trình diễn này. Theo các cụ già địa phương thì có lẽ từ "nghiềm" bắt nguồn ở  từ "nghiêm"- "nghiêm quân tuyển tướng sẵn sàng" Kiều - Nguyễn Du. Ở Yên Sở có những trường hợp do kiêng khem hay nói chệch đi: Tập nghi thức tế gọi là "tập ngơi". Vì thế nghiềm quân là tập luyện quân ở đây là tập luyện trình diễn lại một trận phá vây của đội quân do Lý Tướng công chỉ huy cũng được gọi là "nghiềm quân". Nhìn đoàn quân nghiềm diễn lại một trận phá vây theo binh pháp "Trường sà phá vi" như thấy hiện lên trước mắt trận Tô Lịch giang thành hay trận chiến đấu cuối cùng của Tướng công nơi xa xôi hẻo lánh tận mãi vùng Khuất lão. Cũng có cụ lại cho ràng từ "nghiềm quân" nguyên là "nghiệm quân" nói chệnh đi nghĩa là đoàn âm binh linh nghiệm của Đức Thánh Giá đã phò giúp nhiều triều đại của Việt Nam chống xâm lược thậm chí giúp cả một số triều đại phong kiến trung hoa nữa như chuyện chép trong "Việt điện u linh". Đoàn nghiềm quân nghiềm quân xong đoàn quân đứng xếp hàng  tư hai hàng trai tráng đứng hai mép đường hai hàng tổng cờ đứng giữa nhập vào đoàn đi lên Văn chỉ rước Văn. Chính vì đức độ và công lao to lớn sự hy sinh dũng cảm cùng sự linh ứng âm phù mầu nhiệm của Tướng công Phạm Tu - Lý Phục Man nên ở miền Bắc Việt Nam nhân dân nhiều nơi lập đền thờ . Theo một tư liệu ở địa phương thì từ Hà Tĩnh trở ra có tới gần 70 làng xã thờ phụng Người. Đặc biệt là cả vùng thượng nguồn sông Đáy có tới hàng chục làng thợ vọng Lý Tướng công: Bình Phú Phượng Cách (huyện Quốc Oai) Liên hiệp (Phúc Thọ) Đại Thần Mậu hòa Dương liễu Quế Dương Tiền Lệ Phương Bảng (Hòai Đức) xa hơn một chút là Cáo đỉnh Xuân đỉnh (Từ Liêm)...) Năm nào cũng vậy sáng 10-3 âm lịch các làng lại trống giong cờ mở rước lễ đến bái lạy tri ân Đức Thánh Giá. Cách Đền Giá ba bốn cây số các Đình thợ vọng Lý Nam Đế như đình Lưu xá Giang xá Di trạch mở cửa đình hương nhang tưởng nhớ đến vị công thần cứu quốc Phò mã - Tế tử của nhà vua. Đền Giá hay Miếu Giá hoặc Quán Giá và Rừng Cấm Yên Sở đã được xếp loại di tích cấp quốc gia từ năm 1992.(còn tiếp)

More...

Đại tướng Thái úy Phạm Tu-Lý Phục Man vị anh hùng kiệt xuất Triều Tiền Lý Nam đế

By Nguyễn Thế Dũng

 

Dường như quan điểm tách rời Phạm Tu và Lý Phục Man là hai người khác nhau gặp không ít khó khăn lúng túng nên lại xuất hiện một quan điểm nhận định khác" Phạm Tu - Lý Phục Man là một người một vị tướng tài của nhà Tiền Lý nhưng quê ông lại ở Thanh Liệt Thanh Trì. Trong bài "Phạm Tu và nhà nước Vạn Xuân" báo Hà nội mới ra ngày 11/09/1982 Đàm Hưng viết "Phạm Tu người Thanh liệt có nhiều công đánh Lương dẹp Chiêm" "Vì thế ông được Lý Nam Đế phong chức Phục Man tướng công và cho đổi họ. Vì thế dân gian gọi Phạm Tu là Lý Phục Man". Gần như thống nhất với quan điểm đồng nhất hai danh xưng Phạm Tu và Lý Phục Man là một người nhưng vẫn cho rằng ông là người Thanh Liệt một lão tướng quân đã chiến đấu hi sinh tại Tô lịch Giang Thành (Phim "Danh nhân đất Việt" trình chiếu trên VTV1 Đài truyền hình Việt nam).

Dù sao việc đồng nhất Pham Tu - Lý Phục Man là một người cũng đã được đề cập đến song vấn đề quan trọng là quê quán tuổi tác và sự hy sinh của vị tướng quân này vẫn chưa sáng tỏ. Như đã trình bày ở trên rõ ràng Phạm Tu  - Lý Phục Man không phải là người làng Thanh Liệt ông không phải là một lão tướng. Xin được nhắc lại kết luận của giáo sư Phan Huy Lê sau khi khảo sát nghiên cứu kỹ lưỡng về Thành hoàng làng Thanh Liệt và Đình ngoại ở đây "Khách quan mà xét dấu tích Phạm Tu ở Thanh Liệt không được rõ ràng lắm..." và "chưa có cứ liệu gì đáng tin cậy chứng tỏ Phạm Tu quê ở làng này" (Tạp chí Dân tộc học số 46 tháng 2/1985). Cũng tại bài viết "Kẻ Giá một làng chiến đấu" này giáo sư Phan Huy Lê kết luận "Trong khi đó dấu tích của Lý Phục Man ở làng Giá lại rất rõ nét. Ở đây ngoài đình quán với đồ thờ câu đối truyền thuyết dân gian hội Giá hàng năm nổi tiếng khắp vùng còn có 5 tấm bia đá ở Quán Giá cùng một số tư liệu khác và nhiều di tích về quê quán mồ mả Lý Phục Man".

Tuy nhiên để khẳng định rõ ràng hơn cuốn "Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam" Nhà xuất bản Khoa học xã hội in năm 1991 trang 774 đã viết "Phạm Tu quê ở làng Giá thuộc xã Yên Sở Huyện Hoài Đức Hà nội. Ông được vua Lý phong chức Phục Man tướng công đổi theo họ vua là Lý nên cũng gọi là Lý Tu hay Lý Phục Man   lại được vua gả công chúa Phương Dung cho. Mộ và đền thờ ông nay hãy còn di tích tại quê hương ở làng Giá"(1)[1]

Thật vậy thử đi sâu phân tích và cụ thể hóa những nhận định đánh giá của giáo sư Phan Huy Lê và tác giả "Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam" sẽ thấy vụt sáng lên con người và sự  nghiệp vĩ đại của Thái úy Đại tướng quân Phạm Tu - Lý Phục Man người con quang vinh của làng Giá Yên Sở Hoài Đức Hà Nội.

Làng Giá xưa là một làng cổ cạnh đó có di chỉ khảo cổ Vinh quang có niên đại trên dưới 3200 năm tên chữ của làng là Cổ Sở sau chia thành 2 xã là Yên Sở và Đắc Sở thuộc huyện Hoài Đức Hà Nội. Năm 1956 xã Đắc Sở lại tách thôn Yên Thái hợp cùng thôn Tiền Lệ để thành xã Tiền Yên. Từ một làng Giá trở thành 3 làng Giá. Cổ sở là một làng đông dân trù phú làm ruộng trồng dâu nuôi tằm dệt lụa. Xưa có đường giao thông thủy bộ thuận tiện: đường bộ từ Thăng Long lên xứ Đoài đường thủy là dòng sông Hát (sông Đáy) thuyền bè lên ngược về xuôi. Do vậy Cổ sở là địa bàn chiến lược trọng yếu bảo vệ kinh thành Đông Đô - Thăng Long. Trạng Bùng Phùng Khắc Hoan (1528 -1613) đã tặng làng này đôi câu đối "Cổ sở danh tam hiểm Đoài phương tĩnh nhất khu" . Nơi đây đã ghi dấu tích nhiều cuộc chiến đấu oanh liệt của dân tộc ta chống ngoại xâm. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đầu thế kỷ 1 cuộc khởi nghĩa Lý Bí thế kỷ 6 ba lần kháng chiến đánh Nguyên Mông đời Trần cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh...

Địa linh ắt sản sinh nhân kiệt "Khí bẩm tú kỳ gian sinh tuấn dị".

 Theo lời truyền tụng từ xưa đến nay tại các làng Giá và vùng lân cận cùng các văn bản chép tay bằng chữ Hán như "An Sở Thần tứ kỳ" hoặc "An Sở linh thần từ sự tích ký"... hiện vẫn còn lưu giữ trong nhân dân thì Thái úy Phạm Tu - Lý Phục Man được sinh ra vào ngày 10.3 năm Giáp Ngọ (514) trong một gia đình nông dân nghèo ở xóm Lã xá giáp Cảo tây làng Cổ sở. Cha là Phạm Tôn mẹ là Lý Thị Điều (?). Hai ông bà luống tuổi muộn đường sinh  nở nên hết lòng tu nhân tích đức ngày đêm đến chấp tác tại ngôi chùa gần nhà là chùa Bến tên chữ là chùa Ngọc Tân tâm thành cầu nguyện sau đó sinh hạ được một người con trai khôi ngô tuấn tú đặt tên là Phạm Tu. Chàng thiếu niên nghèo nhưng đã có sức khỏe hơn người ngày ngày đi chăn trâu cắt cỏ thường cùng chúng bạn chia quân đánh trận lấy tàu lá chuối làm cờ. Ngày nay mảnh đất chôn nhau cắt rốn Phạm Tu vẫn còn trên đó dựng ngôi đền thờ song thân ông nay nhân dân đều gọi ngôi đền là chùa - chùa Lựa. Chùa nhưng không có tượng phật vì song thân Phạm Tu gần như suốt cả cuộc đời phục vụ nương náu cửa từ bi và sinh hạ được vị Thánh nên nhân dân tôn hai vị là Phật và nơi thờ gọi là chùa. Lớn lên chàng thanh niên họ Phạm có sức khỏe phi thường có "tài nghệ tuyệt nhân" cưỡi ngựa bắn cung rất giỏi lại có tài thuần phục voi dữ "năng bác huấn tượng sự". Sống trong cảnh lầm than đói khổ lại chứng kiến bao sự bất công tàn bạo của bọn phong kiến xâm lược nhà Lương (Trung Quốc) đối với nhân dân ta chàng trai họ Phạm sớm có tinh thần bất khuất ý chí căm thù bọn cướp nước sâu sắc. Ông đã đứng lên kêu gọi trai tráng trong vùng dựng cờ đại nghĩa chống quân Lương.Tài thao lược chí anh hùng của chàng thanh niên Cổ sở đã thu hút hàng trăm hàng ngàn trai tráng trong vùng tụ hội ngày đêm tập luyện nung nấu ý chí quyết tâm diệt giặc. Đội dân binh ngày càng đông đúc lại đánh đâu thắng đấy cả vùng Đỗ Động Đường Lâm dần sạch bóng quân thù.

Cùng buổi ấy có Lý Bí (1[2]) người đất Thái Bình con nhà hào trưởng vốn làm Giám quân cho nhà Lương nhận thấy thứ sử Tiêu Tư cùng bọn cướp nước tàn bạo hà khắc nên năm Tân dậu 541 ông đã dựng cờ khởi nghĩa. Phục tài đức của Lý Bí Phạm Tu tự nguyện đem toàn bộ số dân binh dưới quyền về hợp sức cùng Lý Bí. Thấy Phạm Tu là người "hiên ngang khí vũ chân đại trượng phu khả đương phương diện hứa tòng nhung sự" sẽ lập nhiều kỳ công nên trọng dụng và giao cho giữ đất Đỗ Động - Đường Lâm và phong làm Đại tướng quân. Thanh thế quân khởi nghĩa lớn mạnh chiến thắng vang dội thứ sử Tiêu Tư chống không nổi bỏ chạy về Quảng Châu. Lý Bí đem quân chiếm giữ Châu Thành (tức Long Biên).

Năm Quí Hợi 543 tháng 4 vua Lâm ấp cướp quận Nhật Nam Lý Bí hội ý các quần thần đều thưa: "Phi Đỗ động tướng quân bất khả liễu thử tặc - Không thể ai khác ngoài Đỗ động tướng quân mới thắng được giặc này". Nghe lời trăm quan Lý Bí cử Phạm Tu "Sử tổng soái chư tướng vãng ngự Lâm ấp" - đứng đầu chư tướng đại phá quân Chiêm. Thắng lợi trở về vua trọng thưởng: siêu thăng Thái úy "tham nghị mạc phủ" đứng đầu hàng quan võ ban tặng hai chữ Phục Man vì có công hàng phục quân man di ở phương Bắc và Lâm ấp ở phương Nam "Nãi dĩ đa phục man chi công" cho đổi họ vua là Lý "Tứ danh Phục Man tứ tính Lý Thị" lại gả công chúa Phương Dung cho Phạm Tu. Từ đó mọi người tôn kính gọi là Phục Man Tướng công.

Năm sau năm Giáp tý 544 mùa Xuân Lý Bí nhân thắng lợi đuổi hết xâm lược Phương Bắc dẹp yên bọn lấn chiếm Chiêm Thành đã lên ngôi Hoàng đế tức là Nam Việt đế lập triều đình trăm quan dựng quốc hiệu là Vạn Xuân dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội lấy Triệu Túc làm Thái phó Tinh thiều đứng đầu ban văn Phạm Tu - Lý Phục Man đứng đầu ban võ "nghi thị bách liêu thiên tư trung liệt" thanh liêm ngay thẳng giữa triều trung không dung tha kẻ có tội "đàn hặc quyền hãnh".

Mùa hạ tháng 6 năm Ất Sửu (545) vua nhà Lương sai Dương Phiêu và Trần Bá Tiên đem đại binh sang cướp nước ta lần nữa Vua Lý Nam Đế cho 3 vạn quân chống cự bị thua ở Chu Diên lại thua ở cửa sông Tô Lịch. Lý Nam đế chạy về giữ thành Gia Ninh quân Lương đuổi theo vây đánh.

Tháng giêng năm Bính Dần (546) Bá Tiên tiến đánh lấy được Gia Ninh. Vua tôi nhà Lý phải chạy vào đất người Lạo ở Tân Xương. Đến tháng 8 Lý Nam Đế đem 2 vạn quân từ đất Lạo ra đóng ở Hồ Điển Triệt (Lập thạch Vĩnh Phúc). Trần Bá Tiên không dám tiến đánh ém quân chờ thời cơ. Một đêm mưa lớn nước hồ dâng cao 7 thước. Bá Tiên đốc thúc quân bản bộ chèo thuyền theo dòng nước tiến đánh. Vua Lý cùng các tướng Phạm Tu Triệu Quang Phục bất ngờ phải lui vào giữ Động Khuất lão xây dựng lực lượng đánh lại Trần Bá Tiên. Đầu năm Đinh Mão sau nhiều trận giao  chiến không thành nhận thấy khó khăn nên Lý Nam Đế một mặt giao cho Triệu Quang Phục (con trai Triệu Túc) lui quân về giữ đầm Dạ Trạch (Chu Diên) lợi dụng địa hình sình lầy hiểm trở xây dựng lực lượng chiến đấu mặt khác giao cho Phạm Tu củng cố lực lượng "Cẩn thủ doanh đồn yếu xứ" bảo vệ nhà vua và quần thần. Lý Nam Đế do lam khí nặng nề âu lo về việc nước bị bệnh mất tại đây. Lý Tướng công một mặt lo mai táng cho Lý Nam Đế mặt khác cho quân phòng ngự những nơi hiểm yếu. Sau đó được tin quân Lương của Trần Bá Tiên tiến đánh vùng Khuất Lão Phạm Tu - Lý Phục Man đem quân chặn đánh . Đang đêm "Hốt dạ gian hỏa tiễn tứ nhiễu" tên lửa của giặc vây bắn tứ phía. Không ngờ trong đội quân của Phạm Tu có một bộ phận người Di Lạo bội phản họ đã câu kết với quân Lương quay vũ khí đánh lại "Man binh thủy hối nhân tâm nham hiểm..." Bị bao vây tứ phía "thiên mệnh nan kham" - mệnh trời không cưỡng lại được Thái úy quyết chiến mở đường phá vây "giải vi nhi xuất" không may Tướng công bị trọng thương một vết chém khá sâu ở cổ. Tướng công được hai vị tùy tướng là Trương Hống Trương Hát yểm trợ mở đường máu đưa về quê hương - làng Giá cổ sở. Trên đường trở về quê qua một làng gặp một người đàn bà Tướng công hỏi: "Liệu ta có sống được không?" Người đàn bà đó sợ hãi không dám thưa. Từ đó làng này có tên là làng Thị Cấm. Đi một đoạn nữa gặp một người đàn bà khác Tướng công lại hỏi câu trên. Người này chỉ cười từ đó làng này có tên là làng Hòe Thị. Về đến cánh đồng làng có một cái cống đá qua đường dưới có một dòng nước chảy ngựa khát nước dậm chân  dừng lại. Vết chân ngựa lõm xuống thành một lỗ thủng cổ yếm ngựa tỳ vào mặt đá nay vẫn còn vết hằn sâu. Vì thế cống đá này có tên Lũng cục (chân bị ngậm giữ lại co quắp) nhân đân ở đây quen gọi là cống Lùng cục (phiến đá lớn mặt cầu nay vẫn nằm trên cánh đồng Ganh) Về đến bến Mã Tân gặp lão bà bán hàng nước Tướng công hỏi: "Ta bị chém thế này liệu có sống được không?" Bà cụ kính cẩn thưa "Dạ thưa tôi đã hơn tám mươi tuổi chưa từng thấy ai như thế mà sống được chỉ có Thánh thì mới sống được mà thôi". Tướng công cho ngựa phi xuống đường qua chùa Ngọc Tân đến bến Hồ Mã Người ngã xuống thác về trời. Các tùy tướng cùng quân sĩ đi cùng và nhân dân vô cùng tiếc thương chôn cất Tướng công gần một ao sen nhân dân vẫn gọi là Khu Mả Thánh. Trải qua nhiều năm tháng cây cối mọc lên um tùm tươi tốt thành một khu rừng rộng lớn tới hơn ba chục mẫu đó là khu rừng Cấm. Đoạn đường ngựa chiến đưa Tướng công về bến Hồ Mã xưa nay vẫn gọi là  "Đường cái chân ngựa". Bà cụ bán nước sau này cũng được nhân dân tri ân lập đền thờ tại chính nơi cụ ngồi bán hàng vì dân làng cho là chính bà cụ già này là người đầu tiên phong Thánh cho Tướng công. Theo lệ làng mỗi khi vào hội rước Giá qua đây đoàn dừng lại vào thắp hương và tiến hành tế tại đây vào ngày vãn hội để tỏ lòng tri ân. Nay vẫn còn bài văn tế Cụ bà bán hàng này.

Phía bắc rừng Cấm vào thập niên 60 của  thế kỷ trước vẫn còn 3 khoảnh đất rộng bằng phẳng không trồng cấy gì chỉ để cỏ chăn thả trâu bò. Nhân dân gọi là 3 khoảnh "vạn" tương truyền là 3 giọt máu khi Tướng công bị thương chạy về quê nhỏ xuống rất thiêng nên không trồng hoa màu được. Điều đáng chú ý nữa do Tướng công bị trọng thương bởi đao kiếm quân thù nên từ xưa đến nay trong đền Giá thờ Tướng công cũng như đồ tự khí rước hội không bao giờ có bài trí sử dụng đao kiếm giáo gươm.  Hai vị tùy tướng họ Trương mở đường máu đưa Tướng công về quê cũng được dân làng dựng tượng thờ hai bên tả hữu đền Trung. Từ xưa đến nay người dân vào đền lễ Thánh xong bao giờ cũng đứng chếch sang bên phải lễ 1 lễ dập đầu 3 lần xuống chiếu rồi mới đứng lên vái. Đó là biểu hiện lòng biết ơn của dân làng đối với 2 vị tùy tướng Trương Hống và Trương Hát (hai vị tùy tướng sau này tiếp tục đánh giặc lập được nhiều công lớn nên cũng được nhiều làng xã vùng Bắc Ninh Bắc Giang.. thờ làm Thành hoàng).(còn nữa)



([1])  Đáng tiếc là hình như lần xuất bản sau có sửa lại

[2] Chữ Hán "Bí" cũng còn đọc là "Bôn"

More...

Ca khúc tôi yêu

By Nguyễn Thế Dũng

More...

Thái úy Phạm Tu-Lý Phục Man vị anh hùng kiệt xuất Triều Tiền Lý Nam đế

By Nguyễn Thế Dũng

 

Đại tướng Thái úy Phạm Tu - Lý Phục Man

Vị anh hùng kiệt xuất triều Tiền Lý Nam Đế

Thật hiếm có một nhân vật lịch sử nào mà lai lịch cùng những chiến công lẫy lừng và sự hy sinh oanh liệt của ông lại được bàn luận sôi nổi lâu dài dai dẳng và phức tạp cho đến ngày nay vẫn chưa ngã ngũ. Đó là Đại tướng quân Thái úy - Lý Phục Man. Trọng tâm của những vấn đề trao đổi luận bàn tranh cãi là việc nhận diện nhậnchân Thái úy Phạm Tu - Lý Phục man là một nhân vật lịch sử hay là hai người khác nhau. Từ đó nhiều vấn đề quan trọng khác liên quan mật thiết đến nhân vật lịch sử này như tên họ quê quán năm sinh năm mất đến những chiến tích lẫy lừng trong chiến đấu chống kẻ thù xâm lược những trọng trách chức vụ được giao phó ban tặng cả thời điểm địa điểm của sự hy sinh...của người con trung liệt của thế kỷ 6 sau công nguyên cũng có rất nhiều ý kiến bộn bề những nhận định trái ngược nhau.

Sở dĩ việc "nhận chân nhận diện" Phạm Tu - Lý Phục Man trở nên vừa khó khăn mơ hồ vừa mâu thuẫn phức tạp vì cuộc khởi nghĩa Lý Bí triều đình vạn Xuân trong đó có nhân vật lịch sử đặc biệt  này cách ta khá xa- gần một ngàn năm trăm năm lại là thời kỳ như cố giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên đã viết trong cuốn "Góp phần nghiên cứu một vị Thành hoàng Việt Nam Lý Phục Man" còn chìm trong bóng tối khó hiểu nhất của lịch sử Việt Nam "một thời kỳ ngắn ngủi chỉ độ nửa thế kỷ nhưng biết bao biến động: hai lần chống quân xâm lược nhà Lương nhiều lần chinh phạt quân Lâm ấp phía Nam xâm phạm bừ cõi biên cương trải 4 đời vua rồi nội chiến ác liệt thanh toán trừ khử lẫn nhau sau đó lại chìm trong vòng Bắc thuộc gần năm trăm năm nữa với bao nỗi thống khổ ngu dốt". Do vậy sử liệu gốc về cuộc khởi nghĩa Lý Bí cùng triều đình Vạn Xuân đặc biệt vềPhạm Tu - Lý Phục Man thật hết sức hiếm hoi.

Về chính sử quyển "Đại Việt sử lược" là bộ sử cổ nhất của nước ta không nói gì về Phạm Tu - Lý Phục Man. Mãi đến quyển "Đại việt sử ký" của Lê Văn Hưu (1239-1322) đời Trần ra đời sau triều tiền Lý Nam Đế gần tám trăm năm là cuốn sử biên niên bằng chữ Hán được coi là bộ quốc sử đầu tiên của Việt nam cũng bị thất lạc từ lâu. Mãi đến thời Lê Ngô Sĩ Liên tham khảo "Đại Việt sử ký" để soạn ra bộ "Đại Việt sử ký toàn thư" được khắc in và công bố lần đầu tiên vào năm Đinh sửu niên hiệu Chính Hòa thứ 18 triều Lê Hy Tông tức là năm 1697 sau nhà Tiền Lý Nam Đế gần một ngàn hai trăm năm. Bộ Quốc sử này cũng chỉ ghi mấy dòng về Phạm Tu "Mùa hạ năm Quý hợi 543 tháng 4 vua Lâm ấp cướp phá quận Nhật Nam vua Lý Nam Đế sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở Cửu Đức". Sau khi khởi nghĩa thắng lợi Lý Bí lên ngôi hoàng đế tháng giêng năm Giáp Tý 544 xưng là Nam Việt đế thiết lập triều đình Vạn Xuân lại có một câu "lấy Triệu Túc làm Thái phó bọn Tinh Thiều Phạm Tu làm tướng văn tướng võ". Cả bộ quốc sử "Đại việt sử ký toàn thư" chỉ ghi có vậy về tướng quân Phạm Tu.

Cũng phải kể đến cả hai quyển sách cổ nữa có nói đến vị tướng võ của thời Tiền Lý Nam Đế. Đó là quyển "Việt điện u linh" và "Lĩnh Nam trích quái". Như tên gọi "Lĩnh Nam trích quái" là chọn lựa những chuyện quái dị ở đất Lĩnh Nam - là những huyền sử những chuyện cổ tích dân gian do Trần Thế Pháp biên soạn vào cuối đời Trần. Vũ Quỳnh và Kiều Phú biên soạn lại và hiệu đính vào năm 1492-1493. "Việt điện u linh" cũng là một tập ghi lại những huyền sử và chuyện cổ dân gian những chuyện u linh ở đất Việt chép lại những " hình tích các vị thần khí thế rừng rực lúc đương thời anh linh tỏa rộng đến đời sau" do quan Phụng ngự Lý Tế Xuyên biên soạn vào năm 1329. Hai cuốn sách này có nói đến Lý Phục Man nhưng chủ yếu nói về sự thiêng liêng linh ứng sau khi Tướng quân đã mất: "Thần ở trên không đem quỉ binh án trở thảy đều có công..." Cả hai quyển dã sử này cùng xuất hiện sau triều tiền Lý Nam Đế tám chín trăm năm.

Có lẽ do đặc thù triều đại Lý Nam Đế quá xa xôi nguồn sử liệu cũ hầu như không có nên cả quốc sử và chuyện cổ dân gian viết về Phạm Tu - Lý Phục Man lại được viết sau đó trên dưới một ngàn năm nên hầu như mỗi sách viết về một nhân vật lịch sử: "Đại Việt sử ký toàn thư" nói về Phạm Tu còn "Việt điện u linh" và "Lĩnh Nam trích quái" lại chỉ nói đến Lý Phục Man nên sau này cuốn "Lịch sử Việt Nam" tập I Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp in năm 1983 trang 441 mới phân rõ thành hai người hai vị tướng tài danh của Lý Nam Đế: Phạm Tu đứng đầu ban võ quê ở Thanh Liệt Thanh Trì Hà Nội và Lý Phục Man quê ở Yên Sở Hoài Đức Hà Tây (nay là Hà Nội). Từ đây nhiều cuốn sách bài báo nói về Phạm Tu - Lý Phục Man mới có sự không đồng nhất chia tách thành 2 vị tướng võ của triều Tiền Lý: Phạm Tu đứng đầu ban võ (như Bộ trưởng bộ quốc phòng) còn Lý Phục Man là "tướng quân khu" chỉ giữ vùng biên viễn Đỗ Động Đường Lâm! Có thể kể đến một số bài viết về Phạm Tu - Lý Phục Man là hai nhân vật khác nhau trong các tác phẩm "Từ điển văn hóa Việt Nam" "Thành hoàng Việt Nam" "Đại tướng Việt Nam" và cả "Hà Nội nghìn xưa" "Danh nhân Hà Nội" nữa. Ngoài ra cũng cần phải nói thêm mấy năm trước đây dòng họ Phạm ở Thanh Liệt Thanh Trì và một số nơi khác khẳng định Thái úy Phạm Tu là người làng Thanh Liệt nên đã tôn ông là Thượng Thủy Tổ dòng họ Phạm với những chiến công to lớn đánh Lâm ấp (Chiêm Thành) và hy sinh tại cửa sông Tô Lịch trong trận kịch chiến với Trần Bá Tiên. Bài viết này đã được in trong các tập nội san dòng họ Phạm và đăng trên mạng Internet được sửa lại ngày 23/04/2009. Cũng mới đây báo Quân đội nhân dân số cuối tuần ra ngày thứ bảy 04/04/2009 tác giả Chí Nhân có bài viết khẳng định ngay từ tiêu đề của bài "Phạm Tu không phải là Lý Phục Man". Tác giả cũng thừa nhận "do tư liệu về giai đoạn này còn lại không nhiều nên chúng tôi suy luận từ những gì còn lại với mục đích tìm ra điều chân thực". Do vậy Chí Nhân đã phải dùng phương pháp "phản chứng tạm giả thiết" giả dụ "Phạm Tu- Lý Phục Man là một người thì tại sao nhà nước Vạn Xuân lại cử người đứng đầu ban võ đi trấn ải biên cảnh phía tây Đỗ Động - Đường Lâm". Cũng không thể Phạm Tu - Lý Phục Man là một người vì "Phạm Tu hơn Lý Phục Man đến 27 tuổi. Nếu sớm nhất năm 542 Lý Bí gả công chúa cho Phạm Tu thì lúc này Phạm Tu đã 67 tuổi đáng tuổi ông của công chúa sao?" Cứ cho là giả dụ thì lập luận này cũng thiếu thuyết phục vì trước khi về triều đứng đầu ban võ Phạm Tu đã trấn giữ miền biên cảnh phía tây này thì sao? Thêm nữa nói Phạm Tu là một lão tướng năm 542 đã 67 tuổi là cũng chỉ căn cứ vào bản thần phả Đình Ngoại  xã Thanh Liệt mới được chép lại độ tin cậy rất hạn chế.

Có thể quan điểm tách rời Phạm Tu-Lý Phục Man là hai nhân vật lịch sử riêng rẽ của dòng họ Phạm ở Thanh Liệt là căn cứ vào một "khám phá" gây nhiều tranh cãi của nhà sử học Lê Văn Lan. Trong bài viết "Phát hiện sử học mới về Lão tướng quân Phạm Tu" cũng đăng trên báo Quân đội Nhân dân cuối tuần số ra ngày 06/12/1998. Mặc dầu nhà sử học họ Lê reo lên là "phát hiện sử học mới " là "may thay gần đây đã có những công phu để bắt được sóng tín hiệu mới rất có giá trị về lão tướng quân Phạm Tu"  nhưng oái ăm thay "cũ người mới ta" những gì được coi là mới ở đây đã được nhiều nhà sử học nghiên cứu xem xét từ trước đó 16 năm rồi. Đó là cuộc khảo sát nghiên cứu khá công phu của giáo sư Phan Huy Lê chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam cùng với Đại tá Phó viện trưởng Viện sử học Quân đội Phan Huy Thiệp Tiến sĩ sử học quân đội Nguyễn Anh cùng đông đảo các cộng sự tại Thanh Liệt Thanh Trì từ giữa năm 1982 của thế kỷ trước. Kết quả cuộc khảo sát này đã được thông báo tại cuộc hội thảo về Phạm Tu - Lý Phục Man tại xã Yên Sở Hoài Đức Hà Tây ngày 25/12/1982. Sau đó giáo sư Phan Huy Lê cho đăng bài "Kẻ Giá một làng chiến đấu" trên tạp chí Dân tộc học số 46 tháng 2/1985 trong đó có nói đến cuộc khảo sát của giáo sư và đồng nghiệp tại Thanh Liệt năm 1982. Kết quả của những cuộc khảo sát này cho thấy:

•-         Bản Thần phả của Đình Ngoại xã Thanh Liệt có tiêu đề "Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu Thụy Đô hồ Đại vương Thượng đẳng thần sử tích" mới được chép lại tại đền Hùng (Phú Thọ) năm Bảo Đại thứ 9 (1934) mà "chép lại một cách sơ sài không cẩn thận có chữ còn để trống hay bỏ sót". Đây có lẽ là sự tích một vị cư sĩ ở ẩn một phật tử tu tại gia (cư sĩ) sau khi mất có sự linh ứng (cảm ứng) nên được phong tên thụy là Đô hồ quan võ trông coi hồ nước của địa phương này đó là hồ Thanh đàm. Thật kỳ lạ sau này có người lại giải thích chữ "đô" gốc Hán (trong sắc phong) thành chữ "đô" tiếng Việt trong "đô vật"  rồi lại chuyển Phạm Tu thành Phạm Đô Tu một tên riêng rất xa lạ với nhân vật lịch sử Phạm Tu đã được Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư.

•-         Tấm bài vị ở đây cũng đã rõ "Bản thổ Tiền Lý Triều Long biên hầu Đô hồ Đại vương Thần vị" Vị thành hoàng ở đây được phong tặng tước hầu vị thần trông coi hồ nước - Về sắc phong của các triều đại ban tặng cho Đô hồ đại vương ở đây có 13 đạo cổ nhất là đạo sắc của vua Lê Cảnh Hưng năm thứ nhất (1740) và gần nhất là của vua Khải Định nhà Nguyễn (1916-1925). Nội dung chủ yếu của các đạo sắc phong này là nói về sự linh ứng của Thần trong đó đặc biệt có vài ba đạo sắc đời vua Minh Mệnh năm thứ 5 (1824) ban tặng "Thủy thần phán quan" - ban cho Thần coi sóc mặt nước. Đạo sắc đời vua Tự Đức thứ 3 (1850) tặng mỹ tự "Trường trạm" nghĩa là giữ nước luôn trong trẻo đời vua Duy Tân ban   tặng mỹ tự "Linh Thuý" nghĩa là giữ mặt nước luôn trong trẻo không pha tạp...Rõ ràng đó là những chữ đẹp phong cho một vị Thần trông giữ hồ nước.

•-         Tấm bia đá trong đình nói là tấm bia có từ đời Lương (?) Trung quốc (thế kỷ thứ 6) thực ra chỉ là một tấm bia hậu dựng năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái nhà Nguyễn thờ cụ Phạm Tế quê gốc Thanh Hóa thiên cư ra Thanh Liệt mới được dăm sáu đời nay.

•-         Bức tranh thờ nói là chân dung Phạm Tu là một tấm hình vẽ trên một mảnh lụa đã cũ một người dân ở Thanh Liệt là cụ Nhiêu Cỏn mới vẽ lại trên một tờ giấy tây. Đoàn khảo sát năm 1982 đã gặp người vẽ lại tấm hình và được xác nhận là đúng.

•-         Đình ngoại thờ  Đô hồ đại vương  là một ngôi đình có qui mô khá khiêm tốn được tọa lạc ngay bờ hồ ven làng cũng mới được tân tạo thời Lê Hiển Tông (1740 - 1786) đến nay mới có vài trăm năm. Việc bài trí trần thiết cũng còn sơ sài đến cỗ kiệu rước cũng không có phải dùng kiệu ở Định nội mỗi khi rước hội. Nếu quả thật danh tướng Phạm Tu quê ở Thanh Liệt thì nhân dân địa phương chẳng lẽ lại bỏ quên người con trung liệt của quê hương tới 12 thế kỷ sau mới lập ngôi đền thờ quá khiêm tốn đến vậy? Cả các vương triều phong kiến xưa hình như cũng lẵng quên vị khai cuốc công thần nhà Tiền Lý nên đến tận đời Lê Cảnh Hưng mới dựng đình thờ? Ai cũng biết đại danh nho Chu Văn An (1292 -  1370) đời Trần người làng Thanh Liệt sống sau Phạm Tu bảy tám trăm năm lại không hề có một dòng lưu bút nào về người anh hùng kiệt  xuất của đất nước vị tiền bối lỗi lạc cùng quê hương

•-         Một điều quan trọng nữa cần chú ý là nếu Phạm Tu là Đô hồ đại vương ở Thanh Liệt thì sao cả một vùng rộng lớn xung quanh nơi này nói riêng và cả miền Bắc Việt Nam nói chung nơi được ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khởi nghĩa Lý Bí hầu như không nơi nào lập đền thờ. Cuốn Linh thần Việt Nam của giáo sư Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo nhà xuất bản VHTT năm 2002 chỉ tìm được 3 địa phương có thờ Đô hồ đại vương. Tuy nhiên chưa xác định được Đô Hồ Đại vương có phải là Phạm Tu hay không!

•-         Vấn đề cuối cùng cần làm rõ là theo tài liệu của dòng họ Phạm ở Thanh Liệt thì Phạm Tu là một lão tướng. Năm 542 cuộc khởi nghĩa Lý Bí nổi dậy lúc đó ông đã 67 tuổi. Mặc dầu được mô tả là một đô vật thời trai trẻ nhưng với một người già cả trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra không hề có hành trạng gì liệu có đủ tài sức để đối đầu với bọn giặc Lương? Cũng theo tài liệu này năm 543 vua Lâm ấp lẫn chiếm bờ cõi phía nam tướng biên ải là Lý Phục Man không chặn được giặc vua lại phải sai lão tướng Phạm Tu đem đại binh vào nam mới đánh tan được quân Chiêm tại Cửu đức. Sau cuộc trường chinh này trở ra vị lão tướng lại phải đương đầu với quân Lương của Trần Bá Tiên ở cửa sông Tô Lịch và hy sinh tại đây. Ba năm trời một ông lão 70 tuổi vụt đứng dậy xung trận đánh Bắc dẹp Nam bấy nhiêu công tích liệu có đủ cơ sở để tin cậy?

Từ những suy nghĩ phân tích trên đây có thể kết luận Thái úy Phạm Tu một nhân vật lịch sử có nhiều chiến công oanh liệt vị đại công thần triều Tiền Lý không phải người làng Thanh Liệt đình Ngoại làng Thanh Liệt không phải là nơi thờ ông mà là thờ một vị thủy thần cai quản hồ Thanh đàm xưa. Phải chăng đó là vị thủy thần học trò của danh sư Chu Văn An đời Trần vì nặng ân nghĩa thầy và thương dân hạn hán đã trộm mệnh trời vung bút nghiên làm mưa chống hạn cho dân cam chịu tội với Ngọc hoàng thượng đế như câu chuyện dân gian còn truyền tụng?*(còn tiếp)

More...

Cần sớm có kết luận về dịch giả cuốn Chinh phụ ngâm hiện hành

By Nguyễn Thế Dũng

                http://nguyenthedung.vnweblogs.com/gallery/12963/previews-med/Phong%20canh%20dong%20lua.jpg 

             Cần sớm có kết luận về dịch giả cuốn

                    Chinh Phụ Ngâm hiện hành

Đặng Trần Côn là tác giả bản nguyên tác bằng chữ Hán cuốn Chinh phụ ngâm khúc. Ông là người làng Nhân mục (làng Mọc) huyện Thanh Trì tỉnh Hà đông nay là Hà Nội. Học rộng nhớ nhiều có tài thơ văn nhưng lận đận trên đường cử nghiệp. Ông đỗ hương cống (cử nhân) rồi thi hội nhưng không đậu. Ông đành nhận chức quan huấn đạo của một huyện rồi sau được cải bổ tri huyện huyện Thanh Oai Hà Đông. Sau đó thăng chức Ngự sử đài chiêu khám ở kinh đô rồi mất khi mới hơn bốn mươi tuổi. Trong "Lịch triều hiến chương loạn chí" Phan Huy Chú nói rõ thời điểm ra đời Khúc ngâm chinh phụ của Đặng Trần Côn: "Sách Chinh phụ ngâm là do Hương cống Đặng  Trần Côn soạn nhân đầu Cảnh Hưng việc binh nổi dậy người ta đi đánh phải lìa nhà ông cảm thời thế mà viết ra". Đó là nỗi lòng buồn rầu day dứt triền miên của người vợ - chinh phụ - có chồng ra trận tham gia vào cuộc chiến tranh phi nghĩa đàn áp những cuộc nổi dậy phản kháng của nông dân chống lại bọn thống trị. Chinh phụ ngâm khúc được sáng tác theo lối Nhạc phủ thơ cổ thể không gò bó trong những qui tắc về số câu về vần điệu niêm luật sau cũng gọi là thể thơ trường đoản cú. Đó là một kiệt tác trong văn học cổ điển nước nhà.

Do vậy ngay khi Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn vừa mới ra đời  đã được nhiều người lần lượt diễn âm ra thơ nôm - tiếng Việt - theo thể thơ song thất lục bát và lục bát.  Ngày nay người ta biết tới sáu bảy bản dịch nôm của các dịch giả nổi tiếng như Đoàn Thị Điểm Phan Huy Ích Nguyễn Khản Bạch Liên amChu Nguyễn...Tuy nhiên bản diễn nôm hay nhất tốt nhất được phổ biến sâu rộng và được đông đảo nhân dân yêu thích nhất qua mấy trăm năm trở lại đây gọi là bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành lại không biết dịch giả đích thực là ai! Tựu trung lại có hai người được cho là dịch giả cuốn Chinh phụ ngâm hiện hành là Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm và Tiến sĩ Phan Huy Ích. Có điều hầu như hết thảy các cuốn diễn nôm Chinh phụ ngâm này đều không ghi tên dịch giả. Vì vậy ai là dịch giả đích thực cuốn Chinh phụ ngâm hiện hành là vấn đề tồn nghi của văn học sử được đặt ra hàng trăm năm nay nhưng hình như đến nay vẫn chưa có hồi kết.

Có lẽ người đưa ra vấn đề dịch giả cuốn Chinh phụ ngâm hiện hành là Vũ Hoạt. Trong bài tựa cuốn Chinh phụ ngâm  khúc in năm 1902 Vũ Hoạt viết: "Nhớ xưa Đặng tiên sinh làm ra sách ấy Đoàn phu nhân diễn ra quốc âm".  Từ đó mọi người vẫn đinh ninh là bản Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm dịch ra thơ nôm. Sau đó Thuần Phong Ngô Văn Phát khẳng định dứt khoát bản dịch hiện hành chắc chắn là của bà Đoàn Thị Điểm. Giáo sư Dương Quảng Hàm trong "Việt Nam văn học sử yếu" và Nguyễn Đỗ Mục trong "Chinh phụ ngâm dẫn giải"cũng khẳng định như vậy.

Đột nhiên vấn đề dịch giả của bản Chinh phụ ngâm hiện hành được các vị học giả các nhà khảo cứu... quan tâm là năm 1926 ông Phan Huy Chiêm chắt 5 đời của Tiến sĩ Phan Huy Ích có viết cho Đông châu Nguyễn Hữu Tiến một bức thư  nói rằng theo tộc phả họ Phan Huy cùng lời các bô lão họ ấy truyền lại thì bản dịch hiện hành là do Phan Huy Ích "diễn ra văn nôm hiện giờ (năm 1926) còn giữ được bản chính vừa chữ vừa nôm" . Ông Chiêm còn đưa ra bài thơ chữa Hán Phan Huy Ích làm sau khi hoàn thành bản dịch nôm Chinh phụ ngâm khúc đó là bài "Ngẫu Thuật"(1) . Thế là Nguyễn Hữu Tiến người đầu tiên nêu lên mối nghi ngờ về dịch giả cuốn sách "Chinh phụ  ngâm khúc"   mà bấy lâu nay ta vẫn truyền là bà Đoàn Thị Điểm diễn nôm dễ thường không phải mà chính là của cụ Phan Huy Ích diễn ra đó chăng?

Từ đó nhiều nhà nghiên cứu cũng xuất hiện tâm lý nửa tin nửa ngờ "Biết bản dịch của ông Phan thế nào có giống hay khác với bản dịch bấy lâu vẫn truyền là của bà Đoàn Thị Điểm" (Họa Bằng Hoàng Thúc Trâm)

Trước những luồng nhận định còn nghi ngờ về dịch giả bản Chinh phụ ngâm diễn nôm hiện hành Trúc khê Ngô Văn Triện đã về tận làng Gia phạm huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên quê hương cũ của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm khảo sát nghiên cứu và cho công bố những tài liệu mới về nữ sĩ. Trúc Khê dựa vào cuốn "Đoàn Thị thực lục" cuốn gia phả của họ Đoàn do cháu rể của Đoàn Thị Điểm viết trong đó có rất nhiều chi tiết quí báu về cuộc đời Đoàn Thị Điểm có dịch Chinh phụ ngâm khúc hay không thì "Đoàn Thị thực lục" lại không nói tới. Cho nên Trúc Khê Ngô Văn Triện kết luận "Bản dịch Chinh phụ ngâm có thể không phải là của bà Đoàn Thị Điểm".

Cho đến năm 1953 trong cuốn "Chinh phụ ngâm bị khảo" giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã khẳng định  hẳn bản dịch Chinh phục ngâm hiện hành là của Phan Huy Ích. Giáo sư Hãn đã chỉnh lý bản dịch chinh phụ ngâm hiện hành thành một bản gọi là bản A do Phan Huy Ích diễn nôm đồng thời cũng công bố cả bản B cho là của Đoàn Thị Điểm và bản C do Nguyễn Khản diễn nôm...

Trong khi đất nước tạm chia làm hai miền các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục cuộc hành trình đi tìm dịch giả đích thực của  bản Chinh phụ ngâm hiện hành với tấm lòng trân trọng và yêu quí một áng văn chương tuyệt tác của dân tộc. Có thể kể đến hai trong số nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đó.

Ở miền Bắc năm 1967 nhà nghiên cức Lại Ngọc Cang cho ra mắt cuốn "Chinh phụ ngâm khảo thích và giới thiệu" do nhà xuất bản văn học ấn hành. Đây là một công trình nghiên cứu khảo đính phân tích hết sức công phu khách quan sâu sắc của Lại Ngọc Cang. Trên cơ sở tiếp thu những ý kiến phân tích đánh giá của nhiều học giả nhiều nhà nghiên cứu cùng với việc năm 1961 ông đã trực tiếp đi điền dã về tận làng Thụy Khuê xã Sài Sơn huyện Quốc Oai Hà Đông quê hương thứ hai của Tiến sĩ Phan Huy Ích. Ông đã gặp các ông Phan Huy Sửu Phan Huy Xưởng chắt 5 đời của cụ Phan ngành trưởng. Hai ông đã nói nhiều về các bậc tiền bối của họ Phan Huy về các trước tác của họ đặc biệt là việc diễn nôm bản hiện hành của cụ Phan Huy Ích đồng thời đọc thuộc lòng để nhà nghiên cứu Lại Ngọc Cang chép tay lại cả khúc ngâm. Nhà nghiên cứu đã nhận xét "Về căn bản bản mà tôi ghi được đúng là bản trước đây một người trong họ Phan Huy đã chép ra quốc ngữ gửi ông Hoàng Xuân Hãn và đã được công bố. Nhiều người già cả trong họ vẫn còn nhớ truyền khẩu bản ấy"(2). Bằng những nghiên cứu đã thu nhận được và qua chuyến về Sài Sơn nhà nghiên cứu đã đối chiếu phân tích rất toàn diện sâu sắc và đối chiếu cặn kẽ tỉ mỉ khoa học khúc ngâm và kết luận một cách dứt khoát "Bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành là của Phan Huy Ích".

Ở miền Nam giáo sư nhà văn Nguyễn Văn Xuân cũng là một trong những người dành tâm huyết cho việc khẳng định dịch giả Chinh phụ ngâm. May thay năm 1972 giáo sư mới tìm được ở Huế bản nôm "Tân san chinh phụ ngâm diễn âm từ khúc" ấn hành từ năm Gia Long 14 (1815). Bản nôm này cơ bản phù hợp với bản mà giáo sư Hoàng Xuân Hãn cho là của Phan Huy Ích cũng có nghĩa là phù hợp với bản nhà nghiên cứu Lại Ngọc Cang đã ghi được ở Sài Sơn từ hậu duệ Phan Huy Ích. Đáng chú ý là trong đó có bài tựa của nhà xuất bản "Chính trực đường" và đặc biệt là có bài nguyên tựa của dịch giả Phan Huy Ích. Giáo sư Nguyễn Văn Xuân xác quyết "dịch giả đích thực của cuốn sách là Tiến sĩ Phan Huy Ích với tên sách đầy đủ là "Tân san chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc"".

Thế là đã rõ vụ nghi án văn chương dài hơn một thế kỷ đã đi vào hồi kết "nói có sách mách có chứng". Thế nhưng đó mới là ý kiến kết luận của các nhà nghiên cứu khảo luận tâm huyết với bản dịch nôm Chinh phụ ngâm khúc hiện hành. Vì thế từ sau ngày thống nhất đất nước đến nay vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ. Trong các sách giáo khoa các giáo trình bài giảng trên các lớp từ phổ thông đến đại học vẫn giới thiệu dịch giả Chinh phụ ngâm khúc là của bà Đoàn Thị Điểm và chỉ ghi chú miệng là gần đây có người cho là bản dịch nôm ấy là của Phan Huy Ích. Cứ như vậy cái còn đọng lại trong các thế hệ học sinh sinh viên nhiều thập kỷ nay là nữ sĩ Đoàn Thị Điểm người đã diễn âm tác phẩm này. Thêm nữa đây vốn là một kiệt tác văn học cổ điển nước nhà phản ánh vấn đề nóng hổi nhất của thời đại vấn đề chống chiến tranh phi nghĩa và ước vọng hòa bình thông qua những lời than thở triền miên da diết của người phụ nữ có chồng ra trận bằng một bút phát điêu luyện tinh tế sâu sắc hấp dẫn từng làm mê say bao người nên thường có tâm lý dễ chấp nhận dịch giả văn phẩm này là nữ văn sĩ. Điều đó đã hằn sâu trong tâm trí công chúng yêu văn học bấy lâu nay.

Thiết nghĩ đã đến lúc các đơn vị các cơ quan hữu quan trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của mình và những gì đã có về bản Chinh phụ ngâm hiện hành sớm có kết luận chính thức về dịch giả tác phẩm thơ nôm tuyệt tác này viên ngọc quí của nền văn học cổ điển nước nhà. Cũng xin trộm nghĩ hiện nay có điều kiện thuận lợi hơn bao giờ hết các thế hệ con cháu dòng họ Phan Huy đang sinh sống và làm việc ở khắp nơi trong nước cũng như ở nước ngoài nhiều người đều rất thành đạt ở nhiều lĩnh vực nên cần gắng công sức sưu tầm tổng hợp đầy đủ các sáng tác biên dịch khảo cứu... vốn rất phong phú của các thế hệ tiền bối để thành một "Phan Huy văn phái". Trong đó có thêm được những thư tịch liên quan đến việc diễn âm cuốn Chinh phụ ngâm của cụ Phan Huy Ích thì càng quí. Tài sản vô giá của cha ông để lại sao không lên tiếng đòi quyền sở hữu trí tuệ của tổ tiên dòng họ bồi đắp thêm vào tủ sách văn học vốn đã vô cùng quí giá phong phú của dòng họ nhà!

More...

Đặc sản quê hương

By Nguyễn Thế Dũng

 

Bánh gio làng Giá

Cho dù hiện nay các loại kẹo bánh có rất nhiều chủng loại được chế biến từ những nguyên liệu đường bột... thượng hạng và bằng những công nghệ tiên tiến hiện đại nhưng giữa thủ đô Hà Nội bánh gio vẫn được nhiều người ưa chuộng. Sáng sáng có khi từ bốn năm giờ từng tốp từng tốp bốn năm chị em lại hối hả đạp xe đạp từ các làng Giá Yên Sở Đắc Sở Yên Thái (Hoài Đức - Hà Nội) đèo sau lưng thúng bánh gio mang ra tỉnh bán dạo. Hôm nào nỏ chợ chỉ đến hai ba giờ chiều là hết hàng chậm lắm sáu bảy giờ chiều là chị em đã có mặt ở nhà.

Ở các làng Giá nhất là Giá Lụa có lẽ chỉ sau bánh gai bánh gio là thứ bánh được người xưa truyền lại từ rất lâu đời. Bánh gio bây giờ bà con xa gần thường dùng là bánh chợ bánh hàng.  Công phu ngon sạch phải là bánh gio gia đình làm để cúng tổ tiên ông bà vào dịp lễ tết. Kỳ khu thanh tịnh nhất là bánh gio cúng Thần vào dịp Tết "Canh chay" đầu năm mới và lễ hội làng Giá ngày 10 tháng 3 âm lịch. Tết canh chay như tên gọi là lễ Thần đầu năm mới từ mồng bảy đến hết mồng chín tháng giêng hàng năm mà lễ vật dâng cúng hiển nhiên đều là các món chay đứng đầu là bánh gio.

Làm được bánh gio cúng thần là một kỳ công. Theo hương ước làng có từ hàng trăm năm trước lý phó trưởng đương chức được vinh dự làm bánh dâng cúng Thần. Ngày mồng bảy: lý trưởng ngày mồng tám: lý phó thứ nhất ngày mồng chín: lý phó nhì. Mọi thứ phải chuẩn bị từ trong năm. Gạo làm bánh gio là loại gạo nếp cái hoa vàng xay giã đều do cánh đàn ông sạch sẽ không vướng "bụi" (mang tang). Cối xay mới đóng không "sống" nghĩa là phải tróc sạch trấu sàng kỹ rồi đổ vào cối giã phải vài ba người đàn ông khỏe giã gạo cho thật trắng. Dần gạo xong đổ ra mẹt chọ lấy que tre lọc hết những hạt gạo xấu gạo lép gạo vỡ đôi vỡ ba hoặc đôi ba hạt gạo tẻ lẫn vào.  Gạo chọn xong trắng muốt đều chăn chẵn ức vạn hạt như nhau. Quả thầu dầu ngoài bãi chín khô hái về bóc vỏ cứng hạt để ép dầu vỏ rửa sạch phơi khô lúc gần dùng đến đem đốt kỹ lấy gio. Đương nhiên cũng phải đốt ở nơi sạch sẽ. Ngâm gio vỏ hạt thầu dầu vào nước mưa trong vài ngày. Tuần phiên phải thay nhau đến giúp thầy chánh thầy phó đi khắp xóm khắp làng tìm măng tay tre và xin lá cau non để gói gánh gio. Bánh nhà làm để cúng Tết thì thường gói bằng lá giong đã luộc để khô lau sạch. Nếu gói bằng lá giong tươi bánh sẽ bị xám màu.

Gạo nếp ngâm qua vo đãi sạch để ráo nước. Nước ngâm vỏ hạt thầu dầu đã lọc kỹ sạch cặn cho một ít nước vôi trong. Lấy một cành dâu nhỏ bỏ lá tuối vỏ ngoài nhngs vào mước gio đã có vôi cành dâu trắng ngả màu vàng nhạt là vừa nếu vàng sẫm bánh ăn bị nồng. Đổ gạo đã vo đãi vào nước gio ngâm một lúc là gói được. Có khi vừa gói vừa lấy thìa tưới thêm nước gio vào bánh. Chính vì phải có gio vỏ hạt thầu dầu nên bánh được gọi là bánh gio. Những khi hạt thầu dầu quá hiếm làm hàng chợ người ta có thể lấy gio vỏ bưởi khô và gio rơm nếp thay thế. Bánh gio dễ gói: xúc lưng bát con gạo đổ rải theo chiều dài của lá cuộn tròn hai đầu thu vát lại gập lá rồi lấy lạt giang mỏng tưới nhỏ cuốn vòng theo thân bánh buộc lại. Lấy nồi đồng to sau này có thùng tôn rửa thật sạch. Nồi hoặc thùng có dính mỡ là bánh không chín không nhừ. Dưới đáy nồi rải vài lượt măng tay tre đã rửa sạch rồi xếp bánh đặt bếp đổ nước mưa trong ngập bánh rồi đun. Bánh phải đun đều lửa độ một buổi từ sáng đến trưa hoặc từ trưa đến tối bánh mới chín nhừ. Vớt bánh để nguội bóc bánh ra không dính lá màu vàng óng trong suốt không một gợn trắng không còn hình hạt gạo. Có vậy bánh mới dẻo mới dai.

Ăn bánh gio với đường kính trắng với đường mật nhưng ngon nhất vẫn là ăn bánh với nước chè hai. Ngày xưa các làng Giá đều trồng mía re cây nhỏ năng suất thấp nhưng chất lượng  ngon ngọt mát. Ép mía bằng cây gỗ do trâu kéo lọc sạch n ước mía rồi cho một ít vôi vào đun sôi. Lấy đũa cả cho vào chảo nước mía đang sôi vướt lên một tí nước mía nước này nhỏ xuống thành sợi là bắc xuống. Thành phẩm ngày gọi là chè hai. Khi nguội đỏ vào chum thời gian sau một phần nhỏ nước chè hai kết lại thành được phèn. Phần lớn nước chè hai còn lại đun dùng dần.

Bánh gio ăn mềm dỏe dai thơm mát đặc biệt ăn bánh gio giúp ta chóng tiêu cơm trong những ngày Tết ngày hội ăn nhiều thịt cá lâu tiêu.

More...

Ca khúc "Tìm Em"

By Nguyễn Thế Dũng

Bài thơ "Tìm em" đã được chú em tôi - Nhạc sỹ Ngọc Khuê - phổ nhạc. Ca sỹ - NSUT Lệ Thủy đã trình bày. Xin mời các bạn cùng nghe nhé!

                        

 

       

 

 

     

 

 

More...

Tự hoạ

By Nguyễn Thế Dũng

 

               Tự hoạ


          Đã ngoại bảy mươi cứ nói già

          Tưởng là còn lửa lá cùng hoa

          Chân chậm mắt mờ đầu gối mỏi

          Tay run tai điếc cái lưng tà

          Mấy cuộc nâng ly đều chịu chết

          Đôi lần níu áo lạy xin tha

          Bà cháu nghe chừng không vừa ý

          Thở dài ngao ngán nỗi oan gia...

More...