Đại tướng Thái úy Phạm Tu _ Lý Phục Man vị anh hùng kiệt xuất Triều Tiền Lý Nam đế

 

Nói đến các làng Giá và cả mấy làng Sấu gần đó ai cũng biết cả vùng Sấu Giá này là một rừng dừa. Cũng không ai biết đích xác dừa ở đây được trồng từ bao giờ nhưng ở miền Bắc Việt Nam không có nơi nào có được cả một rừng dừa như vậy. Theo truyền thuyết sau khi dẹp tan quân Lâm ấp (Chiêm Thành) Tướng công Phạm Tu đã mang giống dừa từ trong đó về trồng tại quê hương như ghi lại một chiến tích huy hoàng.

Trên đây là những truyền thuyết sống động những ghi chép xa xưa về thân thế sự nghiệp của Tướng quân Phạm Tu - Lý Phục Man được lưu giữ trong nhân dân vùng Sấu Giá. Những tài sản tinh thần vô giá đó được lưu giữ sâu rộng trong nhân dân truyền qua hết thế hệ này đến thế hệ khác đã trở thành chuyện kể hết sức sinh động hấp dẫn và rất thiêng liêng tôn quí. Già trẻ gái trai ở đây như đã thuộc nằm lòng.

Tuy nhiên để tiếp tục làm sáng tỏ thêm về Tướng công Phạm Tu - Lý Phục Man cần đi sâu xem xét về khu di tích đình miếu tại Yên Sở. Như truyền thuyết còn lưu lại ngay sau khi Tướng công về cõi vĩnh hằng nhân dân làng Giá đã lập miếu thờ. Năm 1016 nhân chuyến tuần du trên sông Đáy tại bến Mã Tân Lý Thái Tổ đã hiển mộng gặp Tướng Công rồi ra lệnh cho tu tạo lại miếu thờ và dựng tượng Tướng công như người trong mộng tại ngôi đền Thượng. Pho tượng "nhất như mộng trung sở kiến" uy nghi thạc mỹ. Thời kháng chiến chống Pháp cả khu đền bị cháy lạ thay pho tượng Tướng công vẫn như nguyên vẹn khối gỗ "cốt" bên trong không hề bén lửa mặc dầu đâu đó có vài chỗ bong tróc lớp hỗn hợp đắp ngoài lộ đôi phần cốt gỗ mít.

Tiếp theo sau vua Trần Thái Tôn tức vị nhân tuần du bằng thuyền trên sông Hát đêm đến dừng thuyền bến Ngọc nhà vua thấy một trường thuyền đi tới vua cho hỏi thuyền của ai vậy? Đáp "Thần bản xã nhân tính Lý danh Phục Man đã phò tá vua Lý Nam đế nên Thượng đế cho giữ vùng này trừ tai hãn hoạn cho dân" Vua Trần Thái Tôn cho tiếp tục mở rộng và tu bổ thêm cho Đền khang trang đầy đủ cả 3 ngôi: Thượng Trung Hạ. Đền Trung nối với đền Thượng tạo thành chữ Công. Năm Mậu thân 1688 Cảnh Trị 6 đời vua Lê Huyền Tôn làm tiếp hai dãy hành lang tạo thành khối kiến trúc "nội công ngoại quốc". Trước đó năm Nhâm tý (1672) niên hiệu Dương Đức nguyên niên đời Lê Gia Tông xây tam quan và tường hai bên tả hữu. Năm Nhâm Tuất (1682) niên hiệu Chính Hòa thứ 3 đời Lê Hy Tông xây cột trụ và tường biên. Công cuộc xây dựng tu tạo Đền Giá kéo dài từ năm Bính Thìn đời Lý Thái Tổ (1016) đến năm 1688 đời Lê Cảnh Trị mới cơ bản hoàn thành. Năm Quí Hợi 1804 đời Nguyễn Thái Tổ Gia Long năm thứ 2 đúc thêm máng đồng.

Đền Giá thờ Tướng công Phạm Tu - Lý Phục Man là một ngôi đền nguy nga bề thế tọa lạc trên một khuôn viên rộng lớn tựa lưng vào khu rừng Cấm phía trước là dãy núi Phượng Lĩnh - Sài sơn. Thật hiếm có ngôi đền nào to rộng tráng lệ như Đền Giá. Từ trên đê tả Đáy rẽ xuống qua đường chân ngựa là đến ngay khu Đền chính. Qua một sân cỏ rộng là gặp bức tường cổ giữa có đôi cột trụ cao to với đôi câu đối được viết bằng hai hàng đại tự khảm sứ "Đại danh thùy vũ trụ - chính khí tác sơn hà" (Tên người che chùm thiên hạ khí thiêng nâng nhấc núi sông) và bên trong cột cũng đôi câu đối lớn như thế: "Nhất thiên tang tử ấm - Vạn đại kiếm cung hùng" (Một vùng trời quê hương được nhờ ơn muôn đời sau đất này vẫn hùng mạnh). Lại qua một sân cỏ thứ hai nữa là đến Tam quan 3 gian cao rộng kề bên nối với hai bức tường có hai cửa nhỏ gọi là cửa Sước rồi kéo dài 2 bức tường tả hữu ra 2 bên. Đặc biệt là trên hai bức tường này người xưa gắn mỗi bên 26 và 23 viên gạch nung làm thành 2 bức phù điêu trên đắp hình gia súc chim muông ngư tiều nho sĩ... Hai bức tường và những viên gạch trang trí này được xây dựng từ đời vua Lê Gia Tông (1672) cho đến nay chưa ai giãi mã được mục đích nội dung của những bức tranh gốm nung ngày.

Qua cửa Tam quan đến sân cỏ thứ 3 rồi qua bậc đá tam cấp (những bậc đá ở Đền đều được làm từ năm Chính Hòa 2 đời Lê Hy Tôn (1680)) là đến một sân gạch nền cao khá rộng tiếp theo là đền Hạ (còn gọi là Tiền đường) đền Trung và trong cùng là đền Thượng. Các cụ già trong làng cho biết từ bệ gạch nơi có tượng Tướng công ra đến sân cỏ ngoài cùng là chín bậc thăm thẳm "cửu trùng". Kề hai sân trong thu vào một chút ở hai đầu hồi Đền trung phía đông là nhà ngựa phía tây là nhà bia.

Ngay cửa nhà ngựa có đôi câu đối rất hay: "Tinh trừ Thái Ất thiên kim giá - Lực đại phong truy vạn lý trình" đại ý là Ngựa được tinh luyện cất giữ tính ra đáng giá ngàn vàng. Sức mạnh của ngựa như gió đuổi trên đường vạn dặm. Trong nhà bia có một ngựa chiến thần Bạch mã được đúc bằng đồng sơn ta màu trắng từ năm 1707 đời Lê Dụ Tôn thứ 3. Chiến mã là một kiệt tác cả về mặt chất liệu kỹ thuật mỹ thuật không thấy có ở các đình miếu trên đất nước ta. Cũng không biết bao nhiêu truyền thuyết về thần mã. Ngựa đứng trên một giá gỗ lim chắc chắn có 4 bánh xe gỗ. Truyền rằng mỗi khi mở hội rước Thần Mã ra Tam quan chỉ có một ông già đánh trống hiệu còn lại là trẻ em kéo người lớn kéo ngựa không đi. Thế nên cho đến nay dân làng vẫn giữ tục này. Nghe đâu khi còn chiến tranh chống Pháp chống Mỹ có vài lần Bạch Mã được Thần lấy đi đánh giặc biến mất mươi lăm ngày mới về. Ở một chân ngựa có một vết nứt truyền rằng trong chiến trận Bạch Mã bị thương nên người ta không thể sơn lấp được vết chém đó. Trước mặt ngựa lập một ban thờ ngày thường cũng như lễ hội luôn luôn có hương nhang người dân vẫn qua đây khấn vái.

Đối xứng với nhà ngựa ở phía tây bên trái có một nhà bia. Kích thước cũng tương tự như nhà ngựa bên ngoài có đôi câu đối "Bi truyền vạn cổ lưu phương tích - Thạch ký thiên thu tổng mỹ đàm" nghĩa là những tấm bia còn truyền lại từ ngàn năm xưa vẫn lưu tiếng thơm của di tích - Mặt đá còn ghi lại sự tích của Thần đến muôn đời sau vẫn còn bàn luận ngợi khen. Trong nhà bia có 5 tấm bia đá: Bia cổ nhất là bia "Cổ tích từ bi" dựng ngày lành tháng 4 năm Canh thân niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 2 đời Lê Thần Tôn năm 1620 (Bản lưu tại Viễn Đông Bác cổ số 25). Tấm bia thứ 2 có tên là "Cổ tích từ bi ký" đây là tấm bia lớn nhất trong 5 bia. Bia dựng ngày lành tiết tiểu thử năm Canh Tuất niên hiệu Cảnh trị 8 đời vua Lê Huyền Tôn năm 1670 (Bản dập lưu VĐ BC số 1274). Tấm bia số 3 có tên "Thuật thần từ cựu bi" chép lại một hay vài tấm bia cổ đã mòn hỏng. Bia lập ngày lành tháng 7 năm Mậu thân niên hiệu Bảo thái tứ 9 đời vua Lê Dụ Tôn năm 1728 (Bản dập lưu tại VĐBC số 1275 - 1280). Bia số 4 với tên gọi "Đồng mang bi ký" lập ngày lành tháng 10 năm Quý Hợi niên hiệu Gia Long đời Nguyễn Thái Tổ năm thứ 2 nói về đúc máng đồng hứng nước ở hai mái ngói đền Trung và Tiền đường (Bản dập in lưu VĐBC số 1276). Mặt dưới máng có 3 bài thơ ngũ ngôn tuyệt hay. Bia số 5 với tên gọi "Miếu đình phụng sự giao từ". Bia lập thượng tuần tháng tư năm Ất mão niên hiệu Tự Đức 8 đời vua Nguyễn Dực Tôn năm 1855 (Bản đập in lưu VĐBC số 1281) nói về giao ước giữa 2 làng Yên sở và Đắc sở trong việc thờ cúng nhất là việc rước hội.

Nội dung cả 5 tấm bia này đều được ghi lại đầy đủ trong cuốn "Văn bia Quán Giá" do Nguyễn Bá Hân biên dịch Nhà xuất bản Thế giới ấn hành năm 1995. Trong lời giới thiệu cuốn sách giáo sư sử học Phan Huy Lê viết: "Đó là những tư liệu vô cùng qúi giá ghi lại sự tích Lý Phục Man..."

Thật vậy trong 5 tấm bia trên đáng chú ý có tới ba tấm nói về thân thế sự nghiệp Tướng công Phạm Tu - Lý Phục Man. Đặc biệt là bia Bảo Thái 1728 "Thuật thần từ cựu bi"- ghi lại nội dung của một hay nhiều tấm bia trước đó mòn hỏng. Nói về thân thế sự nghiệp của Tướng công Bia Bảo Thái ghi rõ :"Đại vương bản hương nhân dã" - Đại vương là người làng này. Thủa thiếu thời Người "anh tư cái thế tài nghệ tuyệt nhân" có tài cưỡi ngựa bắn cung và thuần phục voi dữ. Lý Nam Đế thấy Đại vương là người "hiên ngang khí vũ chân đại trượng phu" có thể lập nhiều kỳ công nên trao phong "Đại tướng quân giao trấn giữ Đỗ Động Đường Lâm" hậu bái Đại tướng quân sử trấn Đỗ Động Đường Lâm. Khi Lâm ấp (Chiêm Thành) nhập khấu Cửu đức tin cáo cấp về triều các quan đồng thanh tâu vua: "Phi Đỗ Động tướng quân bất liễu thử tặc". Vua cử Tướng công "Tổng soái chư tướng chinh phạt Lâm ấp tại Cửu đức. Tin thắng trận về triều vua hết lời ngợi ca "Gặp thớ gỗ cứng mới biết được dao sắc". Nay Đỗ Động tướng quân mới bắn mấy mũi tên đã đại phá kình địch. Thật là một vị anh hùng hào kiệt đất Sơn tây. Các vị danh tướng thủa xưa cũng không hơn được không thể nào lại không khen thưởng.

Vì tướng công "đa phục man di chi công" nên ban cho tước hiệu Phục Man cho đổi sang họ Lý gả công chúa Lý Nương cho Tướng công và siêu thăng Thiếu úy tham nghị mạc phủ nghi thị bách liêu..." đứng đầu trăm quan võ. Sau đó bia ghi lại câu chuyện Lý Thái Tổ tuần du trên sông Hát thấy nơi sơn xuyên tú khí nên tâm cảm thần động đã rót chén rượu xuống sông mà khấn rằng: "Trẫm qua nơi đây thấy nơi này sơn kỳ thủy tú hẳn là địa linh ắt sinh nhân kiệt hãy cùng trẫm hưởng chén rượu này". Tối đó nhà vua nằm mộng thấy một người to lớn cao đẹp hiện lên tâu: "Thần là người làng này họ Lý tên Phục Man. Thời vua Lý Nam Đế Thần là người trung dũng ai cũng biết tiếng nên được giao trấn giữ Đỗ Động Đường Lâm. Thần đã vâng mệnh vua giữ yên không cho bọn giặc man rợ xâm phạm. Sau khi thần mất thượng đế giao cho Thần chức cũ điều âm binh giúp nước diệt giặc". Sau đó đại vương ung dung đọc 4 câu thơ:

Thiên hạ tao mông muội

Trung thần nặc tính danh

Trung thiên minh nhật nguyệt

Tư khả hiện chân hình.

Nhà thơ Trần Lê Văn dịch là:

Trời đất còn mờ mịt

Trung thần dấu họ tên

Nay sáng vầng nhật nguyệt

Hình bóng rõ như in.

Nhà vua kinh ngạc về giấc mộng kể lại cho quan Ngự sử đại phu là Lương Nhâm Văn nghe. Quan Ngự sử tâu: vị thần đã hiện hình tâu bày và tỏ ý muốn được "lập từ thiết tượng" - lập đền dựng tượng thờ. Vua sai xây Đền thờ to rộng hơn dựng tượng như người trong mộng và phong là Phúc thần.  Tiếp theo là nói về sự linh thiêng của thần: Vào đời Trần Thái Tôn niên hiệu Nguyên phong giặc Thát Đát vào xâm lược. Tới địa phận làng Cổ sở ngựa giặc đều cúi gầm đầu không chịu đi mọi người trong làng kéo ra chống giặc. Giặc sợ hãi hoảng loạn tháo chạy. Lại đến đời Trần Nhân Tông niên hiệu Trùng Hưng giặc Nguyên lại vào xâm lược nước ta. Khi giặc đến vùng này tưởng như cả một vòng vây lửa rực cháy bao vây lũ giặc. Giặc kinh hồn hò nhau tháo chạy. Vua Trần Nhân Tông phong cho làng Cổ sở là "Chứng an hộ xá" và ban tặng Thần là Chứng an Vương...Phần cuối bia ghi lại những sắc phong lệnh chỉ của các vương triều ban tặng cho Tướng công.

          Còn hai tấm bia "Cổ tích từ bi" năm 1620 và "Cổ tích từ bi ký" năm 1670. Phần nói về sự tích Tướng công có phần sơ lược hơn. Tuy nhiên bia Vĩnh Tộ 1620 và bia Cảnh Trị 1670  chỉ nói về giấc mộng của vua Trần Thái Tôn (1225 - 1258) tuần du sông Hát và cũng gặp Thần như câu chuyện về vua Lý Thái Tổ ghi trong bia chép lại Bảo thái 1728. Phần sau hai bia này cũng chủ yếu ghi lại những sắc phong lệnh chỉ ban tặng cho Tướng công và những ân sủng của các vương triều Lê Trịnh ban tặng cho Đền Giá. Đặc biệt đáng chú ý nhất là ở bia lập sau năm 1728 ghi lại nội dung các bia mờ hỏng thì chức vụ của Tướng công là Thiếu úy. Còn 2 bia kia dựng trước đó hàng trăm năm là bia Vĩnh Tộ 1620 và bia Cảnh Trị (1670) lại ghi là Thái úy. Tuy nhiên theo sách "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú bộ bách khoa toàn thư đồ sộ của nước ta thì trong mục "quan chế" có giải thích là xưa kia các triều đại cũ không phân biệt Thái úy và Thiếu úy là hai chức quan hai quan tước cao thấp khác nhau. Thiếu úy tức là Thái úy sau này. Chép lại bia cũ dân làng tôn trọng văn bản gốc nên vẫn ghi Thiếu úy chứ trong nhận thức thực tế người viết đã biết xưa Thiếu úy và Thái úy là một. Còn việc Tướng công đứng đầu ban võ thì đã rõ qua những chi tiết đã được phân tích trên đây. "Tham nghị mạc phủ nghi thị bách liêu..."

Một điều băn khoăn của một số nhà nghiên cứu cho rằng ở Yên Sở không có họ Phạm nên Phạm Tu không phải người Yên Sở. Điều đó là sai lầm bởi cho đến sau này bia Cảnh Trị 1670 tức là sau khi Tướng công hóa Thánh hơn một nghìn một trăm năm mặt sau tấm bia này vẫn ghi danh sách 3 người họ Phạm: Phạm Tiến Tài (giáp Đông Vĩnh) Phạm Văn Trị (giáp Cầu Đông) và Phạm Lâm (giáp Quả Tây). Từ sau đấy do hoàn cảnh biến động của lịch sử họ Phạm ở Yên Sở hiện nay không còn ai. Sự thực là cho đến bây giờ nhân dân vẫn ghi nhớ việc giáp Quả tây trước đây được giao trông nom phần mộ của song thân Tướng công. Bây giờ các cụ ở lứa tuổi bảy tám mươi trở lên ở giáp này vẫn phải trông nom. Cũng giáp ấy xưa vào Hội Giá được dựng cột và kéo 5 lá cờ vía - cờ ngũ hành - tại sân Đền 13 giáp còn lại chỉ dựng các cờ to khác. Đặc biệt đáng chú ý là tất cả các bia tại Đền Giá không bia nào ghi chép về sự hy sinh oanh liệt của Tướng công. Tất cả chỉ ở trong truyền thuyết lưu lại và cũng có một vài cuốn sự tích Tướng công nói về việc này như đã trình bày trên. Điều này cũng dễ hiểu. Quan niệm xưa thường tế nhị không muốn nói đến sự hi sinh mất mát cho dù sự hy sinh đó rất cao cả vì sự nghiệp của quốc gia dân tộc đặc biệt sự hi sinh ấy là do kẻ thù giết hại. Có chăng chỉ thoảng qua đôi ý trong các câu đối thờ ở đây: "Tá lý sinh tiền tâm vị mãn" - Lúc sinh thời phù nhà Lý một dạ thờ vua lòng còn chưa thỏa hoặc "Trung liệt từ ức tải trường huy" tức là Đền thờ vị thần trung liệt còn sáng mãi đến muôn đời. Trong lịch sử dân tộc cũng có những trường hợp tương tự. Đó là sự hi sinh oanh liệt của Hai Bà Trưng. Có chỗ sử chép không nói rõ sự hi sinh oanh liệt của Hai Bà như Đại Việt Sử Ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên chỉ nói "Vua - Hai Bà sợ không chống nổi giặc lui về giữ Cẩm Khê. Quân chúng thấy vua là đàn bà sợ không đánh nổi địch bèn tan chạy. Quốc thống lại mất" chỉ ngụ ý nói đến Hai Bà không còn quốc thống lại mất về giặc Hán. Sách Việt sử Tiêu án của Ngô Thì Sĩ chỉ nói là "Hai Bà Trưng thua chạy đến núi Huy sơn rồi không biết đi đâu". Trong "Lịch triều hiến chương loại chí" lại ghi là "lui về Cẩm Khê. Quân đều tan vỡ thế cùng phải chết". Cho đến quyển Đại Nam Quốc Sử diễn ca đời Nguyễn Tự Đức có vẻ cụ thể hơn:

          "Cẩm Khê đến lúc hiểm nghèo

          Chị em thất thế cùng liều với sông"

Và sau đó đến tận năm 1942 Nguyễn Tường Phượng nói rõ hơn "Chị em Trưng Vương thất thế phải gieo mình xuống sông Hát giang (sông Đáy) mà tự vẫn". Còn sách "Hậu Hán Thư" chép các sự kiện lịch sử của Trung Quốc nói rõ Mã Viện đã chém chết Hai Bà. Thế là đã rõ không muốn nói rõ cụ thể sự hi sinh vì đất nước của người xưa do bị quân thù giết hại đến như các nhà sử học danh tiếng cũng thoáng ý "Quốc thống lại mất" hoặc "Không biết đi đâu...". Trường hợp của Tướng công Phạm Tu - Lý Phục Man cũng vậy. Sự thật là Người bị quân Lương và bọn Di Lạo phản bội vây đánh bất ngờ Tướng công bị thương nặng rồi mất.

Còn một điều cần làm sáng tỏ thêm là tên thật của Tướng Công. Ai cũng biết do có nhiều công lao đánh bọn xâm lấn Lâm ấp (Chiêm Thành) và một số tộc người thiểu số ở Đường Lâm - Đỗ động nên Tướng công đã được đổi họ là Lý và tước hiệu là Phục Man - hàng phục được bọn man di. Có lẽ vua Lý cũng dựa theo sử Trung quốc sau khi đánh dẹp yên nước Ba (Tế Xuyên) vua Hán Quang Võ phong cho Mã Viện là Phục Ba Tướng quân. Vậy danh xưng Lý Phục Man không phải là tên gốc. Học giả Nguyễn Văn Huyên đã viết "Lý Phục Man chỉ là cái tên vua ban. Cả tên lẫn họ đều không phải tên họ của Tướng công lúc ra đời. Được gia ân mang tên họ mới và sau đấy người ta chỉ còn gọi biệt danh đến nỗi tên gốc hoàn toàn biến mất". Và dân làng Giá chỉ còn kiêng tên Man mà không kiêng tên Tu nữa. Sự thực là tên gốc của Tướng công không hoàn toàn mất. Một số cuốn sách bằng chữ Hán ghi lại sự tích của Tướng công vẫn còn đó những lời truyền miệng trong dân gian do những nhà nho xưa kể lại vẫn còn đó: Phạm Tu và Lý Phục Man là danh xưng của một người một nhân vật lịch sử quê gốc ở làng Giá xã Yên Sở huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội. Nói cách khác Phạm Tu chính là Lý Phục Man hay ngược lại Lý Phục Man chính là Phạm Tu.

Vị anh hùng dân tộc khai quốc công thân nhà Tiền Lý vị Tướng quân hy sinh oanh liệt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đã được nhân dân và các vương triều xưa hết lòng tôn kính biết ơn. Người đã được ban tặng hàng trăm sắc phong với hơn 400 mỹ tự (chữ đẹp) từ đời vua Lê Đại Hành đến Nguyễn Bảo Đại. Hai lần Tướng công được phong Thánh: Thiên Nam Thánh - Vị Thánh của trời Nam đời Lý Thần Tôn (1131) và Nhân Thánh - vị Thánh nhân từ đời Lê Thần Tôn (1624). Cũng hai lần Tướng công được phong Vương: Gia Thông đại vương đời Lý Thái Tổ (1016) và Chứng An đại vương đời Trần Nhân Tôn (1285). Nhiều lần được phong Thượng đẳng phúc thần (Bia Vĩnh tộ 1620 bia Cảnh trị 1670 đời Minh Mệnh...).

Miếu thờ Tướng công Phạm Tu - Lý Phục Man thường gọi là Đền Giá Miếu Giá. Vẫn được liệt vào hạng "Tự điển" (Đền Miếu thờ phụng tế lễ mẫu mực) quanh năm suốt tháng nhân sự phụng thờ kính cẩn. Có rất nhiều sắc phong nhất là từ thời Lê Trịnh về sau hầu như không đời vua chúa nào không có sắc phong có lần trong một tháng hoặc một năm 2 lần phong tặng: Lê Kính Tôn năm 1614 tháng 9 ngày 20 và sau đó ngày 22 tháng 9 một đạo sắc khác. Vua Lê Thần Tôn (1660) tháng 11 ngày 27 một đạo và 2 ngày sau ngày 29 một đạo sắc khác. Có đời vua Lê trị vì nhiều lần sắc phong cho Tướng công như vua Lê Kính Tôn Lê Thần Tôn Lê Cảnh Hưng... Các chúa Trịnh như Thượng phụ Bình An Vương (Trịnh Tùng 1570 - 1623) Thanh đô Vương (Trịnh Tráng 1623 - 1657) Thượng sư Tây vương Trịnh Tạc (1657 - 1682)... đều có lệnh chỉ giao cho xã lập đội chuyên trách trông coi giữ gìn khu Đền ai xáo trộn sẽ bị nghiêm trị. Các đời vua Lê Chân Tôn (1645) Lê Huyền Tôn (1663) Lê Dụ Tôn (1714) Lê Hy Tôn (1683) Lê Hiển Tôn (1757 1767 1784...) đều có sắc lệnh cho xã được tổ chức những người chuyên trông nom bảo vệ Đền miễn thuế cho ruộng đất dùng để tế Thần miễn trừ phu phen tạp dịch làm đường đắp đê cho những người này. Thậm chí có sắc phong miễn tạp dịch miễn thuế ruộng đất cho cả làng có năm còn cấp thêm tiền gạo vào việc tế lễ Tướng công. Như năm Lê Hiển Tông 18 (1757) cấp thêm cho xã bốn mươi bảy quan hai buộc tiền và một ngàn tám trăm hai mươi bốn bát gạo để cho việc phụng thờ ở trong đền. Từ xa xưa đến nay việc lễ bái tế tự ở Đền Giá được tiến hành nghiêm cẩn qui định các tiết lệ đầy đủ suốt cả một năm từ đón tết Nguyên đán đến giao thừa "Tống cựu nghinh tân". Các phe giáp dòng nóc phân định rõ ràng theo đúng tinh thần sắc lệnh của vua chúa. Những ngày lễ trọng như Xuân Thu tế và suốt thời gian lễ hội việc tế Thần theo nghi thức Nhà nước (quốc tế). Riêng lễ hội thì cả 3 làng Giá phối hợp tế Thần trên một không gian sâu rộng từ tam quan đến cửa Đền Thượng mỗi buổi tế gần 3 giờ đồng hồ mới xong. (Trình tự buổi tế dẫn này đã được cố giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên ghi lại đầy đủ trong tác phẩm đã dẫn). Các bài văn tế khấn Thần được biên soạn rất công phu. Ngoài phần ngày tháng nhân danh những người cúng tế lễ vật dâng cúng lý do buổi tế phần ca ngợi công đức của Thần được soạn mỗi buổi tế mỗi khác. Đó là những bài văn chữ Hán viết theo thể phú biền ngẫu súc tích mẫu mực vần điệu bằng trắc chau chuốt công phu gieo vần theo từng ngày tế. Trong tài liệu đã dẫn cố giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên cũng ghi lại một số bài văn tế trong lễ hội. Gần đây soạn giả Nguyễn Bá Hân đã giới thiệu 33 bài văn tế Tướng công in trong quyển Văn thơ Quán Giá nhà xuất bản Thế giới ấn hành năm 2006. Thực tế số bài văn tế văn khấn ở đây có tới 58 bài gồm cả những bài văn khấn cho các sĩ tử đi thi thi đỗ trai tráng tòng quân tằm tang cày cấy... hầu như những bài văn tế này đều nhắc đến công lao vĩ đại của Thần và làm rõ quê hương công trạng chức vụ thời gian chiến đấu dưới ngọn cờ nhà Lý: Uy dung nghiễm nhã khí vũ hiên ngang Đường lâm Đỗ động trường thành...

•-         Nam thiên danh tướng Tiền Lý trượng phu

•-         Nam quốc danh thần Lý triều cự phách

•-         Xuất nhập Tướng quân Thái úy huân danh vĩnh ký...

•-         Thánh trí uyên thâm thông minh thiên tích thất tải (7 năm) Lý triều Đại tướng.

•-         Doãn vũ doãn văn. Nãi Thần nãi thánh. Xuất tướng quân nhập Thái úy công danh vạn cổ chiêu chương.

•-         Thân kiêm ngoại quận nội triều

•-         Cửu Đức Đường Lâm trọng trấn...

Ngoài văn tế thật hiếm thấy ở Đình Đền nào nhiều câu đối thờ Thần như ở Đền Giá. Soạn giả "Thơ văn Quán Giá" đã tuyển soạn dịch nghĩa dịch thơ 74 câu đối. Tuy nhiên số câu đối ở đây có tới hơn 90 câu được khắc thờ ở Quán và ghi lại trong các quyển Sự tích của Tướng công. Ví dụ một số vế đối đoạn đối:

•-         Sùng t điển ư thuận thiên chi nhật trung liệt từ ức tải trường huy.

•-         Trượng việt bỉnh mao thất tải (7  năm) Lý triều hùng tướng

•-         Bình nhung thảo tặc túc trứ phong công lãng Cửu đức chi hùng uy Yên sở nhất phương mông chí trạch.

•-         Đắc Nam thiên chính khí ngang ngang Tiền Lý trượng phu ngoại nhi quận nội nhi triều nhất thân hệ quốc gia khinh trọng

•-         Thất tải trung thiên vạn lý cần vương

•-         Cửu đức quân doanh...Đường Lâm thú lũy...

•-         Chiêm Thành vạn lý việt mao... Đỗ động Đường lâm dương Thánh vũ

•-         Tinh thải diệu Đường lâm...nguyệt huyền loan Cửu đức

(Xin phép được trích một số câu hoặc vế đối có nhắc đến Đường lâm Đỗ động Cửu đức Chiêm Thành Yên sở Đoài phương Tây thổ ...để tham khảo rõ hơn về Phạm Tu-Lý Phục Man).

          Nói đến nơi thờ Tướng công Phạm Tu ở Yên sở bấy lâu nay vẫn có sự nhầm lẫn giữa Đình Giá và Quán Giá. Quán Giá xưa thường gọi là Đền là Miếu là nơi thờ chính Tướng công là quê hương và cũng là nơi Tướng công hóa Thánh. Những khái niệm: "Canh đền" "Tuần miếu" xưa vẫn hay dùng. Bia Tự Đức ghi rõ là "Miếu đình phụng sự giao từ" nghĩa là những giao ước riêng rẽ hai nơi Đình và Miếu trong việc phụng thờ Tướng công. Càng ngày nhân dân trong vùng càng thấy công ơn to lớn của Tướng công cùng với việc linh ứng kỳ lạ "Đền kẻ Giá cái lá cũng thiêng" của Đức Thánh Giá nên đã coi Đền thờ của Thiên Nam Thánh như nơi thờ một vị Tổ sư của một đạo giáo nào đó. Do vậy từ "Miếu Đền" nhân dân chuyển sang gọi là Quán Quán Giá. Còn đình Giá xưa kia nằm ở cạnh đê tả Đáy giữa hai làng Yên sở và Đắc sở là ngôi đình chung của các làng Giá chứ không phải là Đình Giá là của riêng làng Đắc sở (cố giáo sư tiến sĩ Nguyên Văn Huyên tưởng là Miếu của Yên sở đình của Đắc sở). Đình là nơi thờ vọng Lý Tướng công Phạm Tu là hành cung vua chúa tuần du nghỉ lại là nơi hội họp chung của các làng Giá đặc biệt xưa kia nếu năm nào mở hội cả tháng thì hai làng cùng rước bài vị về Đình mở hội cúng tế ở đấy. Đình Giá đã bị Pháp đốt cháy từ năm 1947 nay chỉ còn lại một số ảnh do cố giáo sư Nguyễn Văn Huyên chụp in vào sách. Đó là một ngôi đình cổ to rộng kiến trúc đẹp và đặc biệt không hề có xà kết cấu mái là do các vỉ  gỗ tạo thành. Nghe nói ngôi đình này được xây dựng từ đời nhà Trần.

          Hàng năm nhân dân các làng Giá mở hội vào ngày 10-3 âm lịch ngày sinh của Đức Thánh Giá. Xưa kia thường vào hội nửa tháng năm nào phong đăng   hòa cốc vào hội cả tháng từ 10-3 đến 10-4 âm lịch. Cá biệt có những năm do mất mùa đói kém bệnh tật chỉ mở hội lệ 3 ngày. Cả vùng này có câu ca "Bơi Đăm Rước Giá Hội Thày...". Đặc sắc nhất của hội làng là Rước Giá. Nếu không mở hội tại Đình thì rước Giá  là rước văn vì Thánh ở tại cung tại miếu. Đến ngày lễ hội một cụ thông thạo Hán học   phẩm chất đạo đức tốt gia đình đề huề êm ấm chay tịnh lên Văn chỉ của làng nơi thờ Đức Thánh Khổng tử và các vị Tiên hiền làm lễ rồi tả văn tại đấy. Sau đó đoàn rước Giá lên Văn chỉ làm lễ nhận Văn tế dâng lên kiệu rước về Đền tế Thánh. Vì vậy rước Giá chủ yếu là rước văn rước chữ của thánh hiền để đọc khấn Lý tướng công Gia thông đại vương Thiên nam Thánh. Rước giá được huy động đông người tàn tán cờ quạt rất nhiều thành một đoàn rất dài trống chiêng vang dậy nên trông cực kỳ hoành tráng lộng lẫy nghiêm túc (Giáo sư Nguyễn Văn Huyên còn ghi lại chi tiết thứ tự đám rước này trong sách đã dẫn). Trước khi đi rước bao giờ cũng tổ chức nghiềm quân một hoạt động đặc sắc của lễ hội làng Giá. Tùy theo hoàn cảnh từng văn đoàn quân "nghiềm" có tới ba bốn trăm người trong đó 2/3 là những thanh niên trai tráng khỏe mạnh số còn lại là các cháu ở độ tuổi thiếu niên. Đó là những thanh thiếu niên đạo đức tốt khỏe mạnh nhanh nhẹn sáng sủa không vướng bụi (có tang) được chọn lựa ở các làng Giáp (nay là các thôn). Trai tráng mặc quần trắng giầy bata trắng áo dài đỏ có thắt lưng mầu đầu đội khăn đen các cháu nhỏ cũng giầy trắng quần trắng áo xanh nước biển có dây đai lưng chít khăn đầu rìu. Trai tráng thì cầm cờ thần hoặc trượng gỗ các trẻ nhỏ cầm cờ chuối màu xanh lam các cháu này gọi là tổng cờ trong khi xếp hàng hoặc đi rước theo lệnh chiêng của cụ chấp hiệu các cháu lại hô "A lá ré ré ré" (có lẽ đó là một câu hèm ?). Cả đoàn quân có một vị "tướng" cầm đầu. Đó là một trung niên cao to khỏe mạnh đẹp trai (bây giờ thường là sĩ quan quân đội nghỉ chế độ do Hội CCB đề cử). Vị "Tướng" cũng đi giầy vải quần trắng áo dài may rộng thắt lưng màu và khăn đầu rìu nâu hoặc màu xẫm.

          Theo hiệu lệnh trống- lễ hội nói chung điều khiển đoàn quân "nghiềm" nói riêng đều dùng trống không dùng mệnh lệnh hô bằng lời. Trống nổi hồi đoàn quân nhanh nhẹn tập hợp tại sân cỏ ngay phía trong tam quan kề với sân rồng: Tướng đứng đầu hàng thứ nhất bên góc phải phía trên cứ hai hàng trai tráng một hàng trẻ em. Theo lệnh trống nhận cờ nhận hồng trượng thứ tự các hàng lên sân rồng nhận rồi quay về chỗ cũ ngăn nắp nhịp nhàng. Trống lệnh chỉnh trang hàng lối rồi bắt đầu lễ Thánh. Hàng trăm người nhưng đứng lên cúi lạy rất đều. Sau đó theo lệnh trống quay trái phải theo hàng ngang hàng đầu ngoảnh quay đông hàng thứ 2 ngoảnh quay tây cứ vậy đến hết hàng ngang cuối cùng rồi bắt đầu đan hàng qua các cờ thần làm chuẩn dựng ven hai bên sân cỏ. Dân ở đây gọi là đi "đẽo cày" (?) Đan hàng xong cả đoàn theo hàng một đi đầu là "Tướng" sau đó cứ 2 trai tráng 1 thiếu niên (hai đỏ một xanh) đi ra phía cửa Sước qua sân cỏ giữa rồi ra sân cỏ ngoài cùng. Giương cao cờ thần hồng trượng đội quân nghiềm theo chủ tướng đi thành một vòng tròn lớn rồi dần dần thu nhỏ các vòng tròn người mỗi lúc một nhỏ hơn. Số người đi bên trong sau chủ tướng vẫn đi bình thường thì bộ phận đi sau phải vừa đi vừa chạy mỗi lúc phải chạy nhanh hơn. Cả đoàn nghiềm đang xoáy trôn ốc khi vị chủ tướng vào tâm điểm của vòng tròn và vòng chạy ngoài cùng đã khép kín thì một tiếng hô vang của chủ tướng ô ô ô rồi lập tức chủ tướng quay lại lộn trở ra. Tất cả đoàn quân giơ cao cờ trượng hô theo chủ tướng ô ô ô rầm trời cùng với tiếng trống trận dồn dập. Lạ kỳ thay đoàn quân theo chủ tướng vòng ra vẫn trật tự giữ đúng cự ly chạy theo đường của mình không nhầm lẫn lộn xộn. Chủ tướng dẫn quân lên đường lớn vòng ra cánh bãi rồi lại về sân Đền chuẩn bị sắp xếp hàng ngũ đi rước. Lễ nghiềm quân đã hoàn tất. Có khá nhiều giải thích về từ "nghiềm" một từ Việt được sử dụng trong màn trình diễn này. Theo các cụ già địa phương thì có lẽ từ "nghiềm" bắt nguồn ở  từ "nghiêm"- "nghiêm quân tuyển tướng sẵn sàng" Kiều - Nguyễn Du. Ở Yên Sở có những trường hợp do kiêng khem hay nói chệch đi: Tập nghi thức tế gọi là "tập ngơi". Vì thế nghiềm quân là tập luyện quân ở đây là tập luyện trình diễn lại một trận phá vây của đội quân do Lý Tướng công chỉ huy cũng được gọi là "nghiềm quân". Nhìn đoàn quân nghiềm diễn lại một trận phá vây theo binh pháp "Trường sà phá vi" như thấy hiện lên trước mắt trận Tô Lịch giang thành hay trận chiến đấu cuối cùng của Tướng công nơi xa xôi hẻo lánh tận mãi vùng Khuất lão. Cũng có cụ lại cho ràng từ "nghiềm quân" nguyên là "nghiệm quân" nói chệnh đi nghĩa là đoàn âm binh linh nghiệm của Đức Thánh Giá đã phò giúp nhiều triều đại của Việt Nam chống xâm lược thậm chí giúp cả một số triều đại phong kiến trung hoa nữa như chuyện chép trong "Việt điện u linh". Đoàn nghiềm quân nghiềm quân xong đoàn quân đứng xếp hàng  tư hai hàng trai tráng đứng hai mép đường hai hàng tổng cờ đứng giữa nhập vào đoàn đi lên Văn chỉ rước Văn. Chính vì đức độ và công lao to lớn sự hy sinh dũng cảm cùng sự linh ứng âm phù mầu nhiệm của Tướng công Phạm Tu - Lý Phục Man nên ở miền Bắc Việt Nam nhân dân nhiều nơi lập đền thờ . Theo một tư liệu ở địa phương thì từ Hà Tĩnh trở ra có tới gần 70 làng xã thờ phụng Người. Đặc biệt là cả vùng thượng nguồn sông Đáy có tới hàng chục làng thợ vọng Lý Tướng công: Bình Phú Phượng Cách (huyện Quốc Oai) Liên hiệp (Phúc Thọ) Đại Thần Mậu hòa Dương liễu Quế Dương Tiền Lệ Phương Bảng (Hòai Đức) xa hơn một chút là Cáo đỉnh Xuân đỉnh (Từ Liêm)...) Năm nào cũng vậy sáng 10-3 âm lịch các làng lại trống giong cờ mở rước lễ đến bái lạy tri ân Đức Thánh Giá. Cách Đền Giá ba bốn cây số các Đình thợ vọng Lý Nam Đế như đình Lưu xá Giang xá Di trạch mở cửa đình hương nhang tưởng nhớ đến vị công thần cứu quốc Phò mã - Tế tử của nhà vua. Đền Giá hay Miếu Giá hoặc Quán Giá và Rừng Cấm Yên Sở đã được xếp loại di tích cấp quốc gia từ năm 1992.(còn tiếp)

Lorena

205 120eJune 28, 20

205 120eJune 28, 2012 3e 6e d7Hello, you used to write great, but the last few posts have been kinda boiÃrgn‚¡K I miss your great writings. Past several posts are just a bit out of track! come on! 172

Tháp Bút

Tháp Bút trân trọng giới thiệu blog mới
http://my.opera.com/thapbut/
Kính mời quý vị ghé thăm.

thanh

Ý kiến này hay lắm

Chào Thầy Dũng! Em chưa từng được học thầy một tiết nào nhưng cũng rất kính nể thầy từ rất lâu rồi. Em nghĩ thầy đã bỏ rất nhiều công sức vào việc tìm hiểu những truyền thuyết và các tư liệu lịch sử của quê hương làng Giá để phổ biến cho những người cùng quan tâm và điều đó lại càng làm cho em cảm phục nhiều hơn. Tuy nhiên em cũng cho rằng ý kiến của anh Phạm Chí Nhân cũng như nhiều người khác không phải không có lý do. Từ nhỏ em đã được các cụ các ông các bác kể cho nghe rằng dưới Quán Giá thờ Đại vương Lý Phục Man có tên thật là Phạm Tu nhưng lớn lên em mới hiểu ra rằng để đồng nhất hai nhân vật lịch sử này thật không đơn giản. Nhất là vào thời đại ngày nay khi khả năng tìm kiếm lại những tư liệu lịch sử của hơn ngàn năm về trước ngày càng trở nên hết sức khó khăn. Vậy theo em Thầy nên bổ sung thêm những ý kiến hay những tư liệu không đồng nhất về hai nhân vật lịch sử này. Em nghĩ nếu đúng Lý Phục Man không phải là Phạm Tu thì những công trạng của Đức ông và sự tôn sùng của các thế hệ sau đối với ông cũng sẽ chẳng thể suy giảm đi được. Nhân dịp năm mới chúc thầy và gia đình luôn an khang thịnh vượng

Phạm Chí Nhân

Cám ơn những tư liệu bác Dung cung cấp

Qua các bài viết chúng tôi tiến hành tìm hiểu sâu hơn tư liệu và đi đến kết luận:
Các tài liệu được lưu hành trước những năm 1960 bi ký của Quán Giá và có thể cả thần phả cũng không có một chỗ nào đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Nếu có ghi trong thần phả tôi tin rằng ông Nguyễn Bá Hân không thể không ghi câu trích dẫn trong cuốn "Văn bia Quán Giá" (và cả Người Làng Giá sẽ lấy làm căn cứ).
Tuy nhiên việc suy đoán trong dân gian là có thực nhưng không đủ cơ sở khoa học lịch sử. Người viết lại sự tích về tướng công Lý Phục Man (bản quốc ngữ đã nêu cuối cuốn Văn bia Quán Giá) đã không dám đứng tên dưới tài liệu soạn lại của mình mà chỉ viết dạng tài liệu tuyên truyền trong làng.
Đến nay chúng tôi khẳng định: tài liệu về Lý Phục Man có trước những năm 1960 không đủ cơ sở cho ông là Phạm Tu người đứng đầu ban Võ nhà nước Vạn Xuân. Tài liệu về Phạm Tu cũng không thể chứng minh ông là Lý Phục Man.
Theo thần tích của hai làng: Hãy để quê hương của Phạm Tu ở làng Quang Liệt (Thanh Liệt Thanh Trì Hà Nội) Lý Phục Man ở làng Giá (Yên Sở Hoài Đức Hà Nội) là một cách làm tôn trọng lịch sử nhất.

Chân thành cám ơn bác Nguyễn Thế Dũng đã giúp chúng tôi tìm hiểu rõ vấn đề: Các tư liệu có hiện nay không chứng minh được Phạm Tu và Lý Phục Man là một người.

Tháp Bút

Phạm Chí Nhân

Trả lời câu hỏi dừa làng Giá trồng từ bao giờ

Về số đông người ta chú ý nhiều đến vùng phía tây Thăng Long trọng tâm là đền Lí Phục Man với dân chúng các làng Yên Sở Đắc Sở thờ cúng ông. Điểm gợi ý có lẽ là trong thần tích có chuyện ông đánh Chiêm Thành (bia 1728 nhắc các lần phong tặng của thế kỉ XVI không kiểm chứng được) thêm cả thành tích bị chết vì công tích này (trong Đại Nam nhất thống chí sách khởi đầu 1852). Thế mà truyện tích về ông thần "phục Man" này xuất hiện xưa nhất trong Việt điện u linh tập với khung lịch sử bắt đầu từ Lí Thái Tổ lúc chưa có chuyện tù binh Chàm thì chỉ là ông thần sông Đáy. Dấu vết đặc biệt về mặt cảnh quan quanh đền là cả một vùng trồng dừa "một sản phẩm hiếm hoi ở đồng bằng Bắc Kì... là thứ cây tạo thành nguồn thu lớn của nơi này" (Nguyễn Văn Huyên Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh tập I tr. 481) khiến cho người Pháp đặt tên là village des Cocotiers. Dừa cũng đi đôi với mía được nhắc nhở ít hơn nhưng không phải chìm trong lịch sử. Năm 1117 người giáp Cam Giá (xứ "Mía Ngọt" người nay chú dẫn là thuộc Ba Vì) dâng hươu đen cho vua Lí và ở thế kỉ sau thì có "tướng" ở đấy chống lại triều đình. Huyện Ba Vì xã Đường Lâm cũng còn có chùa Mía / Sùng Nghiêm tự xây lại năm 1632 thờ Bà Chúa Mía "một cung tần của chúa Trịnh" nhưng dấu vết thần nữ đậm đặc thêm với bàn thờ Liễu Hạnh được đặt ngay ở tiền đường (Hà Văn Tấn Chùa Việt Nam ) bà chúa Liễu mà ta thấy thấp thoáng hình ảnh thần Thiên Y trong ngôi đền ở Thanh Hoá. Theo ông Nguyễn "Yên Sở hình như là một trong những làng giàu nhất Bắc Kì. Nghề dệt lụa và làm ren ở đấy rất phát đạt."

Theo nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường
Nguồn tin: http://www.hopluu.net/

Từ đây chúng ta thấy dừa Yên Sở được trồng từ thời Hậu Lý với công lao động của tù binh Chăm chứ không thể khi Lý Phục Man vào Cửu Đức (Nghệ An Hà Tĩnh ngày nay) đem ra được. Nhầm lẫn phương Nam thời Tiền Lý với Nam Bộ ngày nay.

Người làng Giá cần xem lại thông tin đã đưa:
"Nói đến các làng Giá và cả mấy làng Sấu gần đó ai cũng biết cả vùng Sấu Giá này là một rừng dừa. Cũng không ai biết đích xác dừa ở đây được trồng từ bao giờ nhưng ở miền Bắc Việt Nam không có nơi nào có được cả một rừng dừa như vậy. Theo truyền thuyết sau khi dẹp tan quân Lâm ấp (Chiêm Thành) Tướng công Phạm Tu đã mang giống dừa từ trong đó về trồng tại quê hương như ghi lại một chiến tích huy hoàng.
Trên đây là những truyền thuyết sống động những ghi chép xa xưa về thân thế sự nghiệp của Tướng quân Phạm Tu - Lý Phục Man được lưu giữ trong nhân dân vùng Sấu Giá. Những tài sản tinh thần vô giá đó được lưu giữ sâu rộng trong nhân dân truyền qua hết thế hệ này đến thế hệ khác đã trở thành chuyện kể hết sức sinh động hấp dẫn và rất thiêng liêng tôn quí. Già trẻ gái trai ở đây như đã thuộc nằm lòng."

Phạm Chí Nhân

Vẫn chỉ là sự tích

Chuyện về Lý Phục Man qua cuốn “Văn bia Quán Giá” cũng chỉ là sự tích!
cuốn sách đặc biệt: người biên tập chính là tác giả Nguyễn Bá Hân
Giấy phép xuất bản số : 200/CXB ngày 30/6/1994 in tại xưởng in NXB Thế Giới.

Tên sách không đồng nhất:
- trang bìa: Văn bia Quán Giá
- trang cuối: Văn bia đền thờ Phục Man tướng công Phạm Tu
Có tư liệu không rõ xuất xứ:
- Ngoài nội dung 5 văn bia được ghi chữ Nho và dịch công phu (hoàn toàn không có một ý nào đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu) rất tiếc tác giả lại kèm tư liệu “Sự tích tướng công Lý Phục Man” từ trang 259-265 được cho là tư liệu lưu tại Phòng Bảo tàng Quán Giá với nguồn tư liệu từ thần phả văn bia và sử. Sự tích không thấy tên tác giả thời gian xuất hiện. Sự tích này đã đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Chúng tôi nhận ra đây là tài liệu viết hoàn toàn bằng chữ quốc ngữ (không phải là tài liệu cổ chữ Nho) bởi có những câu mang đậm dấu ấn thế kỷ 20 ở trang 262 có câu: “Tin cấp báo về tới Lý Bôn và các bạn chiến đấu của ông.”

Trang 8 có một bức ảnh gây sự hiểu lầm GS Phan Huy Lê xác nhận ảnh Đền Giá là đền Phạm Tu.

(có in ảnh đền Giá)
1. Đền thờ Phục Man Tướng Công Phạm Tu
Ảnh: Phan Huy Lê

Có lẽ ông Nguyễn Bá Hân sử dụng ảnh của GS Phan nhưng chắc chắn GS Phan không đủ cơ sở cho rằng đó là đền thờ Phạm Tu. Trong lời giới thiệu của GS Phan cũng hoàn toàn không có ý nào nói về Phạm Tu (GS Phan viết: “Nội dung văn bia là những tư liệu vô cùng quý giá ghi lại sự tích của Lý Phục Man một số sự kiện lịch sử của làng cùng với việc tu tạo đình quán chép lại một số quy ước tập quán và lệnh chỉ sắc phong của làng”) và GS Phan còn nhấn mạnh cuối lời giới thiệu “Tôi tin rằng cuốn sách Văn bia Quán Giá của ông Nguyễn Bá Hân sẽ giúp cho các thế hệ nhân dân làng Giá tự tìm hiểu về quê hương yêu dấu của mình và cung cấp một số tư liệu cho các nhà khoa học nghiên cứu về nông thôn và làng xã trên nhiều lĩnh vực”

Theo tôi ông Nguyễn Bá Hân đã “qua mặt” GS Phan những chỗ sau:
- ảnh ở trang 8
- phần sự tích trang 259-265
- và tên sách trang cuối cùng Văn bia đền thờ Phục Man tướng công Phạm Tu

ngày 23/9/2009
Tháp Bút

Phạm Chí Nhân

Ở Quán Giá cũng không đủ cơ sở cho Phạm Tu là Lý Phục Man

Hậu sinh chưa bằng nửa số tuổi bác Dũng cũng xin mạn phép nêu lên:
Ba bài viết dài của bác chưa nêu được tài liệu xưa nào ghi Phạm Tu là Lý Phục Man. Không có văn bản không có trích dẫn mà lại rất nhiều điều không phải là của Nhân vật lịch sử Phạm Tu trưởng ban Võ nhà nước Vạn Xuân. Công trình nghiên cứu của GS Nguyễn Văn Huyên khi ông bằng tuổi tôi hiện nay là một điều nể phục chính công trình ấy bác Dũng cũng trích là GS Nguyễn không tìm ra tên "khai sinh" Phạm Tu cho Lý Phục Man. Chứng tỏ việc đồng nhất xuất hiện sau khi GS Nguyễn công bố tác phẩm